Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam sở hữu bờ biển dài trên 3.260 km cùng diện tích vùng biển chủ quyền hơn 1 triệu km2 theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982. Tại tỉnh Bình Định, huyện Hoài Nhơn giữ vị trí cửa ngõ kinh tế trọng điểm phía Bắc với hơn 23 km bờ biển trải dài qua 6 xã ven biển. Địa phương này quản lý đội tàu đánh bắt xa bờ hùng hậu nhất toàn tỉnh với 2.524 phương tiện và tổng công suất đạt hơn 1,16 triệu CV. Tuy nhiên, quá trình khai thác tài nguyên biển tại Hoài Nhơn đối mặt với nhiều rào cản lớn: hiện tượng bồi lấp cửa biển Tam Quan khiến tàu thuyền khó ra vào, hạ tầng dịch vụ hậu cần nghề cá quá tải, tình trạng vi phạm vùng biển nước ngoài và tổn thất sau thu hoạch còn cao.

Nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề đánh giá thực trạng tổ chức thực thi các chính sách phát triển kinh tế biển của Nhà nước tại huyện Hoài Nhơn trong giai đoạn 2010 đến 2017. Mục tiêu cụ thể gồm: hệ thống hóa lý luận thực thi chính sách công trong phát triển kinh tế biển, phân tích kết quả đạt được từ các chương trình hỗ trợ theo Quyết định 48/2010/QĐ-TTg và Nghị định 67/2014/NĐ-CP, đồng thời chỉ ra các hạn chế trong cơ chế quản lý để đề xuất giải pháp thúc đẩy kinh tế biển giai đoạn 2018 đến 2025.

Ý nghĩa của đề tài được lượng hóa qua việc đóng góp luận cứ khoa học nhằm duy trì tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất thủy sản bình quân 9,4% mỗi năm, nâng cao mức thu nhập của cư dân ven biển vượt mốc 38,35 triệu đồng một người mỗi năm, bảo đảm an sinh xã hội gắn liền với nhiệm vụ giữ vững chủ quyền biển đảo Tổ quốc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết chu trình chính sách công của James Anderson và Guy Peters, kết hợp quan điểm của Phó Giáo sư Lê Chi Mai về quy trình 5 bước thực thi chính sách: xây dựng kế hoạch triển khai, tuyên truyền phổ biến, phân công phối hợp, theo dõi đôn đốc và đánh giá tổng kết. Mô hình này giúp mổ xẻ toàn diện cơ chế vận hành từ văn bản chỉ đạo của Trung ương xuống cấp chính quyền cơ sở huyện và xã.

Đồng thời, luận văn sử dụng khung lý thuyết kinh tế biển theo cách tiếp cận của Phó Giáo sư Bùi Tất Thắng và Chu Đức Dũng. Lý thuyết phân định rõ kinh tế biển theo nghĩa hẹp gồm các hoạt động diễn ra trực tiếp trên mặt biển như khai thác hải sản xa bờ, vận tải biển, du lịch sinh thái; và kinh tế biển theo nghĩa rộng bao gồm chuỗi dịch vụ hậu cần trên đất liền như đóng sửa tàu thuyền, chế biến thủy hải sản tại khu công nghiệp 5,08 ha Tam Quan Bắc, hệ thống cấp nước sạch và hạ tầng giao thông kết nối. Ba khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa gồm: kinh tế biển, phát triển kinh tế biển bền vững và chính sách công về phát triển thủy hải sản.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài được tổng hợp toàn diện từ các văn kiện pháp lý và báo cáo hành chính giai đoạn 2010-2017, bao gồm Nghị quyết 09-NQ/TW của Trung ương, Chương trình hành động 16-CTr/TU của Tỉnh ủy Bình Định, Chương trình hành động 18-CTr/HU của Huyện ủy Hoài Nhơn cùng hệ thống dữ liệu kinh tế - xã hội của Phòng Kinh tế huyện.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát toàn bộ 2.524 tàu thuyền đăng ký hoạt động trên địa bàn, khảo sát 1.780 bộ hồ sơ thụ hưởng chính sách hỗ trợ nhiên liệu và tổng điều tra hoạt động nghề cá tại 6 xã ven biển gồm Tam Quan Bắc, Tam Quan Nam, Hoài Thanh, Hoài Hải, Hoài Hương, Hoài Mỹ. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được ưu tiên áp dụng nhằm bảo đảm tính bao quát, không bỏ sót đối tượng chịu tác động trực tiếp của chính sách hỗ trợ đóng tàu vỏ thép.

Phương pháp phân tích dữ liệu kết hợp thống kê mô tả, so sánh chuỗi thời gian và phân tích chính sách định tính. Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm đối chiếu rõ nét bước nhảy vọt về công suất đội tàu từ 278.000 CV năm 2011 lên 1,16 triệu CV năm 2017, từ đó đánh giá chuẩn xác mức độ tương thích giữa nguồn lực hỗ trợ từ ngân sách nhà nước và năng lực hấp thụ vốn của ngư dân địa phương.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, chính sách phát triển thủy sản đã tạo động lực hiện đại hóa đội tàu đánh bắt xa bờ. Trong giai đoạn 2011-2017, tổng số tàu cá của huyện tăng từ 2.428 chiếc lên 2.524 chiếc, nhưng tổng công suất tăng vọt 2,85 lần, đạt 1,16 triệu CV. Đáng chú ý, tỷ lệ tàu có công suất từ 90 CV trở lên chiếm tới 78%, tạo bước chuyển biến căn bản từ khai thác ven bờ sang đánh bắt dài ngày tại ngư trường Trường Sa và Hoàng Sa.

Thứ hai, sản lượng và giá trị khai thác hải sản tăng trưởng vượt bậc. Sản lượng khai thác năm 2017 đạt 46.000 tấn, hoàn thành 97,9% kế hoạch đề ra, trong đó sản lượng cá ngừ đại dương đạt 8.600 tấn. Giá trị sản xuất ngành thủy sản năm 2017 đạt 2.899,4 tỷ đồng, duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân 9,4% mỗi năm, chiếm 60,24% tổng giá trị sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp của toàn huyện.

Thứ ba, việc giải ngân nguồn vốn hỗ trợ theo các quyết định của Chính phủ đạt hiệu quả cao. Thực hiện Quyết định 48/2010/QĐ-TTg, huyện đã giải ngân hơn 1.247 tỷ đồng trong giai đoạn 2011-2015 và tiếp tục hỗ trợ 414,312 tỷ đồng cho 1.780 hồ sơ trong giai đoạn 2016-2017. Về Nghị định 67/2014/NĐ-CP, toàn huyện có 70 tàu được phê duyệt đóng mới, trong đó hoàn thành bàn giao 18 tàu vỏ thép, 1 tàu vỏ composite và 8 tàu vỏ gỗ công suất lớn.

Thứ tư, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và đầu tư hạ tầng có nhiều đột phá. Địa phương đã trang bị 350 máy định vị vệ tinh Movimar và máy HF tầm xa cho toàn bộ tàu xa bờ, chuyển giao công nghệ khai thác cá ngừ theo tiêu chuẩn Nhật Bản cho hơn 100 tàu cá. Huyện đã nạo vét 314.800 m3 cát tại luồng lạch Tam Quan và quy hoạch cảng cá mở rộng với sức chứa hơn 1.200 tàu cá công suất trên 800 CV.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi tạo nên thành công là sự phối hợp chặt chẽ giữa Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện Hoài Nhơn và Đồn Biên phòng Tam Quan Nam trong việc tuyên truyền pháp luật và hướng dẫn ngư dân tiếp cận vốn vay ưu đãi. Việc thành lập 228 tổ đội đoàn kết sản xuất trên biển đã tạo mạng lưới hỗ trợ cứu hộ, cứu nạn kịp thời trước thiên tai.

Khi so sánh với mô hình kinh tế biển của Đà Nẵng vốn tập trung vào du lịch và thương mại dịch vụ ven bờ, Hoài Nhơn chọn hướng đi trọng tâm là đẩy mạnh công nghiệp khai thác xa bờ và chế biến thủy sản tập trung. Tại Khu chế biến thủy sản Tam Quan Bắc rộng 5,08 ha, 5 doanh nghiệp và 12 cơ sở hoạt động đã tạo ra doanh thu hàng năm hơn 350 tỷ đồng, đóng góp trên 11 tỷ đồng vào ngân sách nhà nước.

Dữ liệu nghiên cứu cho thấy có thể mô tả xu hướng phát triển qua biểu đồ cột thể hiện sự tăng trưởng công suất đội tàu từ 167.430 CV giai đoạn trước năm 2005 lên mức 1,16 triệu CV năm 2017, kết hợp bảng đối chiếu chỉ tiêu sản lượng cá ngừ xuất khẩu. Tuy nhiên, nút thắt hạ tầng vẫn hiện hữu khi mỗi năm ngân sách huyện phải chi hơn 2 tỷ đồng để nạo vét cát bồi lấp cửa biển Tam Quan, trong khi mức thu nhập bình quân đầu người vùng biển mới đạt 38,35 triệu đồng một năm, tương đương 63,9% chỉ tiêu phấn đấu 60 triệu đồng.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cấp đồng bộ kết cấu hạ tầng cảng cá và dịch vụ hậu cần nghề cá. Ủy ban nhân dân huyện Hoài Nhơn cần phối hợp Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Định triển khai xây dựng hạ tầng cảng cá Tam Quan theo quy hoạch tỷ lệ 1/500, tiến hành nạo vét luồng lạch Cồn Rớ định kỳ 300.000 m3 cát mỗi năm, bảo đảm khu neo đậu an toàn cho hơn 1.200 tàu cá công suất trên 800 CV trong giai đoạn 2018-2022.

Thứ hai, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ bảo quản sau thu hoạch và liên kết chuỗi giá trị. Phòng Kinh tế huyện chủ trì nhân rộng công nghệ câu và bảo quản cá ngừ đại dương bằng đá sệt công nghệ Nhật Bản cho ít nhất 250 đội tàu khai thác xa bờ đến năm 2023. Ban Quản lý các cụm công nghiệp huyện xúc tiến thu hút đầu tư vào Khu chế biến thủy sản Tam Quan Bắc, nâng tỷ lệ sản phẩm chế biến sâu xuất khẩu đạt trên 45% tổng sản lượng khai thác.

Thứ ba, hoàn thiện cơ chế giải ngân tín dụng ưu đãi và đơn giản hóa thủ tục hành chính. Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại trên địa bàn cần đẩy nhanh tiến độ thẩm định hồ sơ theo Nghị định 17/2018/NĐ-CP, bảo đảm 100% tàu cá đủ điều kiện được tiếp cận gói vay đóng mới tàu vỏ thép và chi trả kịp thời trên 400 tỷ đồng tiền hỗ trợ nhiên liệu hàng năm theo Quyết định 48/2010/QĐ-TTg từ nay đến năm 2025.

Thứ tư, siết chặt công tác tuần tra, kiểm soát và chấm dứt tình trạng vi phạm lãnh hải nước ngoài. Đồn Biên phòng Tam Quan Nam phối hợp Ban Quản lý cảng cá duy trì hoạt động của Tổ kiểm tra liên ngành, giám sát nghiêm ngặt 100% tàu cá xuất nhập bến thông qua thiết bị Movimar, đặt mục tiêu không để xảy ra trường hợp tàu cá nào vi phạm vùng biển nước ngoài trong giai đoạn 2019-2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cán bộ quản lý nhà nước và chuyên viên hoạch định chính sách công tại các bộ, ngành và cơ quan quản lý nông nghiệp cấp tỉnh. Luận văn cung cấp khung phân tích thực chứng về quy trình triển khai Nghị định 67/2014/NĐ-CP và Quyết định 48/2010/QĐ-TTg tại cơ sở, giúp hoàn thiện các chính sách hỗ trợ ngư nghiệp phù hợp với thực tiễn.

Thứ hai, lãnh đạo chính quyền địa phương tại 28 tỉnh, thành phố ven biển trên toàn quốc. Các nhà quản trị cấp huyện và xã có thể áp dụng bài học kinh nghiệm của Hoài Nhơn trong việc tổ chức lại đội ngũ 228 tổ đội đoàn kết đánh bắt, quy hoạch 5,08 ha cụm công nghiệp chế biến và xử lý tình trạng bồi lấp luồng lạch cửa sông.

Thứ ba, các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thủy sản và hợp tác xã dịch vụ nghề cá. Nguồn số liệu chi tiết về sản lượng 46.000 tấn hải sản và 8.600 tấn cá ngừ đại dương giúp doanh nghiệp xây dựng phương án liên kết bao tiêu sản phẩm, đầu tư công nghệ bảo quản lạnh theo tiêu chuẩn Nhật Bản để đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc.

Thứ tư, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Chính sách công, Quản lý kinh tế và Kinh tế phát triển. Công trình là nguồn tư liệu học thuật phong phú, minh họa sống động phương pháp đánh giá chính sách công thông qua dữ liệu thống kê của 2.524 tàu thuyền và 6 xã ven biển.

Câu hỏi thường gặp

Chính sách phát triển kinh tế biển đã tác động thế nào đến cơ cấu đội tàu cá huyện Hoài Nhơn? Chính sách hỗ trợ vốn và nhiên liệu đã thúc đẩy đội tàu chuyển dịch mạnh mẽ từ quy mô nhỏ sang đánh bắt xa bờ. Tổng số tàu cá tăng lên 2.524 chiếc với tổng công suất đạt 1,16 triệu CV năm 2017, trong đó 78% phương tiện đạt công suất từ 90 CV trở lên, nâng năng lực đánh bắt dài ngày tại ngư trường Hoàng Sa và Trường Sa.

Nguồn kinh phí hỗ trợ theo Quyết định 48/2010/QĐ-TTg được giải ngân tại Hoài Nhơn ra sao? Nhà nước đã thực hiện chi trả hỗ trợ chi phí nhiên liệu vô cùng kịp thời cho ngư dân Hoài Nhơn với tổng số tiền hơn 1.247 tỷ đồng trong giai đoạn 2011-2015. Tiếp đó, giai đoạn 2016-2017 ghi nhận giải ngân 414,312 tỷ đồng cho 1.780 lượt hồ sơ tàu cá bám biển vùng biển xa.

Địa phương đã xử lý khó khăn về hiện tượng bồi lấp tại cửa biển Tam Quan bằng cách nào? Ủy ban nhân dân huyện đã huy động ngân sách địa phương hơn 2 tỷ đồng mỗi năm để nạo vét, khơi thông luồng lạch. Toàn huyện đã tiến hành nạo vét 314.800 m3 cát tại cửa biển, đồng thời lập quy hoạch mở rộng vùng nước neo đậu đảm bảo dung lượng cho hơn 1.200 tàu cá có công suất trên 800 CV tránh trú bão.

Mô hình chuyển giao công nghệ Nhật Bản trong khai thác cá ngừ mang lại kết quả gì? Huyện Hoài Nhơn đã triển khai ứng dụng công nghệ câu tay kết hợp bảo quản cá ngừ bằng thiết bị chuyên dụng của Nhật Bản cho hơn 100 tàu cá xa bờ. Giải pháp này giúp giữ độ tươi của cá ngừ đại dương đạt chuẩn xuất khẩu, nâng cao giá trị kim ngạch và đóng góp vào tổng sản lượng 8.600 tấn cá ngừ năm 2017.

Đóng góp của ngành thủy sản vào cơ cấu kinh tế địa phương đạt mức độ nào? Ngành thủy sản giữ vai trò trụ cột trong kinh tế huyện với giá trị sản xuất năm 2017 đạt 2.899,4 tỷ đồng, chiếm 60,24% tổng giá trị nông - lâm - ngư nghiệp. Khu chế biến thủy sản Tam Quan Bắc đóng góp doanh thu hơn 350 tỷ đồng mỗi năm, tạo việc làm ổn định cho hàng nghìn lao động địa phương.

Kết luận

  • Khẳng định vị thế kinh tế biển là ngành mũi nhọn của Hoài Nhơn với giá trị sản xuất thủy sản đạt 2.899,4 tỷ đồng năm 2017, chiếm trên 60% tỷ trọng toàn ngành nông - lâm - ngư nghiệp.
  • Ghi nhận sự bứt phá của lực lượng khai thác xa bờ với 2.524 tàu cá đạt tổng công suất 1,16 triệu CV, trong đó 78% phương tiện sở hữu công suất lớn từ 90 CV trở lên.
  • Đánh giá thực chất hiệu quả của các gói tài chính vĩ mô khi giải ngân hơn 1.660 tỷ đồng tiền hỗ trợ xăng dầu và hoàn thành đóng mới 27 tàu cá công suất lớn theo Nghị định 67.
  • Chỉ rõ các điểm nghẽn về hạ tầng cảng cá Tam Quan, chi phí nạo vét luồng lạch 2 tỷ đồng mỗi năm và mục tiêu nâng thu nhập ngư dân từ 38,35 triệu đồng lên 60 triệu đồng một năm.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ về quản trị chính sách, đầu tư hạ tầng neo đậu cho 1.200 tàu và mở rộng liên kết chuỗi giá trị chế biến sâu giai đoạn 2018-2025.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã chuẩn hóa mô hình đánh giá thực thi chính sách công về kinh tế biển tại cấp huyện đồng bằng ven biển. Các cấp quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác toàn bộ hệ thống số liệu thực chứng này để xây dựng chiến lược phát triển kinh tế biển bền vững cho địa phương mình.