đặt vấn đề nông dân vào chương trình nghị sự”. Nghiên cứu sự phát triển của các nước tư bản phát triển sớm ở Châu Âu, Ph.Ăng-ghen đã chỉ ra sự phát triển tất yếu, một bước tiến không lồ từ chế độ nông nô sang nền sản xuất lớn Tư bản chủ nghĩa. Nhưng, trong quá trình ấy, số phận người nông dân, chủ yếu là tiểu nông sẽ bị phá sản và bần cùng. Đó cũng là một quy luật, nó diễn ra rất mau chóng, không ai có thể ngăn cản được.
Ông viết: “Ở lãnh thô chính của nước Anh, chế độ chiếm hữu nhiều ruộng đất và nền đại công nghiệp đã hoàn toàn gạt bỏ người nông dân tự sản xuất cho mình. Ở phía đông sông Elbe của nước Phỏ, cũng quá trình ấy đã diễn ra., và cũng ở đó người nông dân ngày càng bị tước đoạt ruộng đất, hoặc về phương diện kinh tế và chính trị, bị gạt xuống hàng thứ yếu”. Từ thực tế đó, Ph.Ăng-ghen đưa ra khuyến cáo với những người cộng sản về lập trường của họ đối với tiêu nông như thé nào và phải hành động ra sao khi đã có chính quyên. Ông chỉ rõ: “Nhiệm vụ của chúng ta đối với tiêu nông, trước hết phải hướng quyền sở hữu cá thé và nền kinh doanh cá thé của họ vào con đường kinh doanh hợp tác.”, bằng những biện pháp dứt khoát “không phải bằng bạo lực mà là bằng những tắm gương và bằng sự giúp đỡ của xã hội”.
Qua nghiên cứu vấn đề nông dân ở Pháp và Đức, Ph.Ăng-ghen cũng chỉ ra xu hướng phát triển của kinh tế nông dân là theo con đường hợp tác xã (HTX), băng cách chỉ rõ tính ưu việt của chế độ hợp tác như “khi hợp nhất những ruộng đất nhỏ lại và cày cay theo phương pháp canh tác quy mô lớn toàn bộ diện tích thì sẽ có điều kiện t6 chức sản xuất kinh doanh theo lối công nghiệp, nền sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp sẽ phát triển, một bộ phận nhân công đã có công ăn việc làm từ trước, nay thành ra thừa; chính sự tiết kiệm lao động là một trong những lợi thế quan trọng nhất của chế độ canh tác quy mô lớn. Số lao động dư ra đó có thể cung cấp cho các ngành công nghiệp và dịch vụ hoặc mở mang thêm nhiều ngành nghề băng cách cung cấp cho những nông dân đó những tư liệu và khả năng lao động làm công nghiệp coi là nghề phụ.Lê-nin, khi nói về nông dân trong tác pham “Sw phát triển chủ nghĩa tư bản Nga”, đã cho rằng sự liên kết các tài sản của những người sản xuất nhỏ thành một tài sản lớn dé kinh doanh sẽ đem lại lợi ích lớn hơn cho người nông dân nhỏ. Tài sản của họ lớn dần lên và họ được hưởng lợi từ tải sản chung đó. Họ có quyền chi phối những tài sản chung đó thông qua các hoạt động sản xuất, phân chia lợi ích từ sự đóng góp đó.
Vì vậy, việc liên kết những người nông dân sản xuất lớn lại để thành lập các HTX là rất cần thiết, cả đối với nông dân và nền kinh tế. Theo Ông, một khi nông dân đã vào hợp tác xã tới mức đông nhất, thì chủ nghĩa xã hội (.), tự nó sẽ được thực hiện (NXB CTQG-ST, 1978). Còn trong tác phẩm Ban về chế độ hợp tác xã (1923), trong V.Lé-nin Toàn tập, Tập 45, NXB Tiến bộ, 1978, Ong lại nhấn mạnh, chế độ HTX có ý nghĩa hết sức đặc biệt trong công cuộc xây dựng CNXH, là con đường cơ bản để cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nền sản xuất hàng hóa nhỏ. Ông viết: “Chưa chắc mọi người đều hiểu được rằng sau Cách mạng Tháng Mười và không vì chính sách kinh tế mới (trái lại, về mặt này, phải nói: chính vì có chính sách kinh tế mới), chế độ HTX ở nước ta đã có một ý nghĩa hoàn toàn đặc biệt”.
Ông lý giải ý nghĩa đặc biệt đó băng các minh chứng sau: Một là, HTX là hình thức dé chấp nhận nhất dé cải tạo nền kinh tế tiểu nông. Ong cho rằng, HTX trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội khác với HTX trong Chủ nghĩa tư bản. Đó là, trong xã hội tư bản HTX là một tô chức tư bản tập thé, thường chịu ảnh hưởng của các nhà tư bản và được sử dụng dé phuc vu loi ich cua ho; con trong thời ky qua độ lên CNXH, các xí nghiệp HTX không khác với các xi nghiệp XHCN. Hai là, ché độ HTX cho phép kết hợp đúng đắn lợi ích cá nhân của người nông dan với lợi ích của xã hội, nó cho phép Nhà nước thực hiện việc kiêm tra, kiêm soát, đồng thời nó cũng là con đường dé chuyền dan nên kinh tế cá thé lên nền kinh tế lớn, tập thé thuận lợi nhất, dé dàng nhất và dé hiểu nhất đói với hàng triệu quần chúng nhân dân.
Trong tác phẩm nay, V.LLê-nin cũng chỉ ra cách thức và điều kiện thực hiện HTX. Cách thức tiến hành HTX là: Phải dựa trên nguyên tắc làm thé nào dé HTX được hưởng ưu đãi về vật chất; Phải làm thé nào dé họ được hoàn toàn tự nguyện; và Phải có sự giúp đỡ của Nhà nước. Về các điều kiện tiến hành HTX là Nhà nước phải nắm được những tư liệu sản xuất chủ yếu; Phải có chính quyền của giai cấp vô sản; Phải có liên minh công-nông; Phải nâng cao trình độ văn hóa cho nông dân. Trai-a-nôp (1924), người được mệnh danh là “Mác của nông dân” đã đưa ra những chỉ dan quan trọng về KTH trong cuốn Ly thuyét về kinh tế nông dân.
Ông nghiên cứu về nông nghiệp, nông thôn, tìm hiểu quy luật tồn tại và vận động phát triển của KTH nông dân và các hình thức hợp tác trong nông nghiệp. Luận điểm trung tâm trong công trình này là vấn dé bản chất của KTH nông dân, cơ cau tô chức kinh tế và con đường phát triển của nó. Theo Trai-a-nôp, KTH - một phương thức sản xuất, một loại hình kinh tế phức tạp của tổ chức sản xuất nông nghiệp là những xí nghiệp sản xuất hàng hoá của gia đình nông dân không thuê nhân công và chiếm đại bộ phận ở nông thôn. Đồng thời, KTH gan bó hữu cơ với gia đình nông dân, vi thế có thé coi kinh tế nông dân là kinh tế gia đình.
Đó là một xí nghiệp lao động gia đình theo những quy luật của nó, khác với quy luật TBCN dựa trên lao động làm thuê. Ông cho rằng ở KTH, người nông dân vừa là người chủ, vừa là người lao động, sẽ đi tới chỗ liên kết các quá trình và các ngành “tách rời nhau” thành hệ thống kinh tế ở nông thôn. Trai-a-nôp coi những hộ gia đình nông dân lao động cá thé là những viên gạch dựng lên vũ trụ xã hội, những tế bào ấy cũng vĩnh cửu như bản thân vũ trụ. Gia đình nông dân lao động xuất hiện từ buổi bình minh của xã hội loài người, trải qua những hình thái KT - XH mà chúng ta biết đến, đã tỏ ra một sự bền vững và một năng lực sống chưa từng thay.
Như vậy, các nhà kinh tế học Mác-xít Lênin-nit đã chỉ rõ vị trí và vai trò của kinh tê hộ gia đình nói chung và kinh tê nông hộ nói riêng trong sản xuât xã hội và 10 lich sử phát triển các hình thái kinh tế - xã hội. Đặc biệt, các ông đã nhân mạnh sự cần thiết của việc phát triển loại hình kinh tế này đối với nền sản xuất hiện đại cũng như một số nguyên tắc cơ bản trong việc phát triển nó trong điều kiện quá độ lên CNXH. Những van đề này tuy được viết cách đây trên dưới một trăm năm nhưng vẫn còn nguyên giá trị đối với Việt Nam, một nước đang trong quá trình đưa sản xuất nông nghiệp manh mún lên sản xuất lớn hiện đại, đặc biệt là sau những thất bại của mô hình HTX được thành lập theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung. b) Ly luận kinh tế học hiện đại về kinh tế hộ gia đình Cập nhật hơn từ giác độ kinh tế học hiện đại phương Tây, giáo sư Mc.Gee (Giám đốc Viện nghiên cứu châu Á - Canađa) và tiến sĩ Kamal Salih (Giám đốc Viện nghiên cứu kinh tế của Malaixia) đã xuất bản cuốn Development Theory and the elusive Household unt: Are we Bendign Shifting sands, July 1989, P3.
Các tac giả đã nhìn nhận từ những góc độ: kinh tế hộ trong quá trình phát triển; kinh tế hộ trong điều kiện công nghiệp hoá và đô thị hoá. Các ông thống nhất quan điểm về phương diện lý luận cũng như phương diện thực tiễn, đã tìm ra sự khác nhau cơ bản giữa hộ và gia đình. Họ thấy rõ sự tác động lớn của quá trình đô thị hoá và công nghiệp hoá làm thay đổi cơ cau kinh tế nông thôn và hoạt động của KTH cũng có những thay đôi đáng kể, song cũng chỉ rõ vai trò KTH không bị lu mờ, trong vai trò tạo nguồn lao động. Cũng ban về mối quan hệ này, ở một quan sát cụ thé hơn, bài viết Kinh tế hộ trong sự hình thành kinh tế thị trường ở một số nước Châu Âu (1997) của Nguyễn Văn Ngừng, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu, số 6, đã đề cập đến vấn đề phát triển kinh tế hộ đối với sự hình thành và phát triển thị trường ở các nước Anh, Bắc Âu, Pháp, Đức, Hà Lan.
Công trình nghiên cứu chỉ rõ trong lịch sử, kinh tế hộ có vai trò đặc biệt đối với sự hình thành và phát triển thị trường; sự phát triển của kinh tế nông trại, kinh tế hộ trên quy mô gia đình với nhiều ngành nghề khác nhau cũng được phát trién ngay ở những nước công nghiệp phát triển như Anh, Pháp, Đức. Tác giả rút ra nhận xét, sự phát triên của kinh tê hộ ở nhiêu nước Châu 11 Âu không mâu thuẫn, không làm triệt tiêu kinh tế thị trường trong sự phát triển; sự phát triển mạnh, đa dạng của kinh tế hộ chứng tỏ lực lượng sản xuất và trình độ xã hội hoá trong nông nghiệp, kinh tế nông thôn ngày càng cao. Tác giả cũng cho rằng, muốn chuyên kinh tế tự cung, tự cấp, từ cơ chế quan liêu bao cấp sang sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường cần phải đây mạnh và mở rộng sự phát triển của loại hình kinh tế hộ sản xuất hàng hoá; kinh tế hộ cần có môi trường thuận lợi dé phát triển. Kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ của các nước phương Tây là bài học hết sức quý báu đối với phát triển nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa của Việt Nam.