Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Kinh tế chính trị (mã số 62 31 01 01) của tác giả Đặng Thị Thu Hiền, bảo vệ năm 2015 tại Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Đỗ Thế Tùng và PGS.TS. Mai Thị Thanh Xuân, mang tiêu đề: "Xu hướng phát triển kinh tế nông hộ lên sản xuất lớn trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam".

Về tính cấp thiết, tác giả phân tích vị trí của kinh tế hộ trong lịch sử kinh tế thế giới và tại Việt Nam. Tại Mỹ, các hộ nông dân sử dụng 65% đất nông nghiệp nhưng tạo ra 70% giá trị nông sản; tại Nhật Bản, kinh tế hộ cung cấp 100% nhu cầu về gạo, 81% nhu cầu lương thực, 98% nhu cầu về trứng và 90% nhu cầu rau quả. Tại Việt Nam, hơn 9,5 triệu hộ nông dân hàng năm sản xuất gần 40 triệu tấn lương thực, đóng góp khoảng 20% GDP và 30% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Từ khi Nghị quyết số 10/NQ-TW ngày 05/04/1988 của Bộ Chính trị thừa nhận hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ, sức sản xuất nông nghiệp đã được giải phóng. Tuy nhiên, khi bước vào giai đoạn toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, kinh tế nông hộ bộc lộ những giới hạn cố hữu: quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún; cơ cấu ngành nghề lạc hậu; thị trường tiêu thụ hạn hẹp và bị động; kiến thức quản lý kinh tế thị trường và năng lực tiếp thu khoa học công nghệ của chủ hộ còn thấp. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là cần nhận thức rõ xu hướng vận động khách quan và xác định hệ thống giải pháp đưa kinh tế nông hộ lên sản xuất lớn trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế nông hộ ở Việt Nam; chỉ ra giới hạn lịch sử của kinh tế nông hộ trong tiến trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; từ đó xác định xu hướng vận động, điều kiện phát triển và đề xuất hệ thống giải pháp thúc đẩy kinh tế nông hộ chuyển dịch lên sản xuất lớn trong bối cảnh mới.

Luận án xác định 03 câu hỏi nghiên cứu cụ thể được đánh số theo văn bản:

  1. Sự phát triển kinh tế nông hộ ở Việt Nam hiện nay đã tới hạn chưa?
  2. Xu hướng phát triển của nó trong những năm tiếp theo thế nào?
  3. Cần phải làm gì để thúc đẩy kinh tế nông hộ phát triển theo xu hướng đó?

Về đối tượng nghiên cứu, luận án xác định đối tượng là kinh tế hộ và xu hướng phát triển của kinh tế hộ lên sản xuất lớn trong điều kiện nền kinh tế thị trường và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam dưới góc độ tiếp cận của Kinh tế chính trị.

Về phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi nội dung: Luận án chỉ tập trung vào bộ phận kinh tế hộ nông dân (kinh tế nông hộ) hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp theo nghĩa rộng và xu hướng vận động của bộ phận này lên sản xuất lớn.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu xu hướng phát triển kinh tế nông hộ trên phạm vi cả nước, có đi sâu vào một số trường hợp cụ thể để minh chứng; đồng thời nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn tại một số quốc gia châu Á (Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan) nhằm rút ra bài học đối chiếu.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu quá trình phát triển từ năm 2001 đến thời điểm thực hiện luận án (2015), trong đó tập trung trọng tâm vào giai đoạn từ khi ban hành Nghị quyết số 26/NQ-TW ngày 05/08/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2014.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các công trình được tác giả tổng quan và phân loại thành 02 nhóm chính:

Nhóm thứ nhất bao gồm các công trình nghiên cứu lý luận về kinh tế hộ:

  • Hướng tiếp cận Mác-xít Lênin-nít: Tác phẩm "Vấn đề nông dân ở Pháp và Đức" (1894) của Ph. Ăng-ghen chỉ rõ sự tồn tại khách quan, sức sống bền vững của kinh tế tiểu nông và định hướng đưa sở hữu cá thể vào con đường kinh doanh hợp tác xã theo nguyên tắc tự nguyện, làm gương và có sự trợ giúp của xã hội. V.I. Lê-nin trong tác phẩm "Sự phát triển chủ nghĩa tư bản ở Nga" và "Bàn về chế độ hợp tác xã" (1923) khẳng định hợp tác xã là hình thức thích hợp để cải tạo kinh tế tiểu nông trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân của nông dân với lợi ích xã hội dưới sự hỗ trợ của Nhà nước vô sản. A.V. Chayanov (1924) với công trình "Lý thuyết về kinh tế nông dân" phân tích bản chất kinh tế nông hộ là xí nghiệp lao động gia đình không thuê mướn nhân công, vận động theo quy luật cân bằng giữa nhu cầu tiêu dùng và mức độ lao động nặng nhọc của các thành viên.
  • Hướng tiếp cận kinh tế học hiện đại: Giáo sư T.G. McGee và Tiến sĩ Kamal Salih (1989) trong công trình "Development Theory and the elusive Household unit: Are we Bending Shifting sands" phân biệt ranh giới giữa hộ và gia đình, chỉ rõ tác động của đô thị hóa và công nghiệp hóa đến chuyển dịch cơ cấu nông thôn. Tác giả Nguyễn Văn Ngừng (1997) với bài viết "Kinh tế hộ trong sự hình thành kinh tế thị trường ở một số nước Châu Âu" trên Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu chỉ ra kinh tế hộ gia đình vẫn phát triển mạnh mẽ tại Anh, Pháp, Đức, Hà Lan và không triệt tiêu kinh tế thị trường. TS. Đặng Kim Sơn (2008) trong cuốn sách "Kinh nghiệm quốc tế về nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong quá trình công nghiệp hóa" tổng kết các bài học về chính sách đất đai, chuyển dịch lao động và tổ chức nông dân. Ngoài ra, tác giả điểm lại quan điểm của Frank Ellis và Pe-rơ-vu-sin (1976) về đặc trưng kinh tế nông hộ gắn liền với đất đai và mức độ tham gia thị trường.

Nhóm thứ hai bao gồm các công trình nghiên cứu thực tiễn phát triển kinh tế nông hộ ở Việt Nam:

  • Các nghiên cứu khái quát toàn quốc: Trương Thị Tiến (2003) nghiên cứu sự biến đổi kinh tế hộ nông dân giai đoạn 1981-2000 và xu hướng chuyển sang kinh tế trang trại. Lâm Quang Huyên (2004) trong tác phẩm "Kinh tế nông hộ và kinh tế hợp tác trong nông nghiệp Việt Nam" làm rõ sự phát triển qua các thời kỳ lịch sử. Lê Xuân Dĩnh (2008) trên Tạp chí Cộng sản nêu bật bức tranh kinh tế hộ thời kỳ hội nhập, cảnh báo nguy cơ dễ bị tổn thương trước quy luật thị trường và chênh lệch năng suất lao động. Đoàn Quang Thiệu (2009) trên Tạp chí Hoạt động khoa học khái quát 9 mô hình kinh tế hộ nông nghiệp hàng hóa. Mai Thị Thanh Xuân (2012) tại Hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần thứ IV tổng kết 6 thành tựu chủ yếu của kinh tế hộ nông thôn giai đoạn 2001-2011 dưới góc nhìn phát triển bền vững. Bên cạnh đó là các công trình của Đào Thế Tuấn (1997), Đinh Văn Quảng (2003), Nguyễn Đức Truyến (2003).
  • Các nghiên cứu địa phương và mô hình cụ thể: Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Phương Thảo (2000) về xu hướng kinh tế nông hộ miền Đông Nam Bộ; Điều tra của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương phối hợp với Đan Mạch trong Chương trình BSPS (2007) khảo sát kinh tế hộ tại 12 tỉnh; Báo cáo tham luận tại Hội thảo khoa học quốc gia tại Cần Thơ (tháng 9/2013) do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban Kinh tế của Quốc hội và Hội Nông dân Việt Nam tổ chức, bao gồm nghiên cứu của Nguyễn Văn Sánh về liên kết sản xuất tại Đồng bằng sông Cửu Long, báo cáo mô hình Cánh đồng mẫu lớn của Công ty Cổ phần Bảo vệ thực vật An Giang (AGPPS), HTX Evergrowth, HTX Thới An (Cần Thơ) và HTX 19/5 (Sơn La).

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết gồm 05 vấn đề:

  1. Làm rõ các vấn đề lý luận về chuyển đổi kinh tế nông hộ lên sản xuất lớn trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (khái niệm, đặc điểm, ưu thế, giới hạn lịch sử).
  2. Phân tích xu hướng vận động tất yếu và các điều kiện cần thiết để kinh tế nông hộ chuyển lên sản xuất lớn tại Việt Nam.
  3. Tổng kết bài học kinh nghiệm từ các quốc gia châu Á có điều kiện tương đồng (Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan), trong đó chú trọng nhận diện các khía cạnh chưa thành công để tránh lãng phí nguồn lực.
  4. Đánh giá toàn diện, có hệ thống thực trạng chuyển biến kinh tế nông hộ từ năm 2000 đến 2014 theo 3 kênh vận động: phát triển trang trại, liên kết ngang (tổ hợp tác, hợp tác xã) và liên kết dọc (doanh nghiệp và nông dân).
  5. Đặt sự phát triển của kinh tế nông hộ vào bối cảnh mới (hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, biến đổi khí hậu) để đề xuất hệ thống giải pháp có tính khả thi.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết, luận án xây dựng trên nền tảng:

  • Các nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; lý luận về phân công lao động xã hội, đại công nghiệp cơ khí và con đường hợp tác hóa nông nghiệp.
  • Đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về nông nghiệp, nông thôn và nông dân, trọng tâm là Nghị quyết Trung ương 7 khóa X (Nghị quyết 26/NQ-TW năm 2008), các quy định pháp luật về đất đai (Luật Đất đai năm 1993, 2003, 2013) và chính sách liên kết sản xuất nông nghiệp.
  • Các lý thuyết kinh tế học về kinh tế hộ của A.V. Chayanov, Frank Ellis và lý thuyết sản xuất lớn trong công nghiệp hóa nông nghiệp.

Khái niệm công cụ cốt lõi được tác giả xác lập: Kinh tế nông hộ là một tổ chức kinh tế thuộc sở hữu của hộ gia đình, hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và một số hoạt động phi nông nghiệp khác, trong đó các thành viên cùng sở hữu tài sản, cùng lao động và cùng thụ hưởng thu nhập do lao động của họ tạo ra.

Về phương pháp nghiên cứu, luận án phối hợp các phương pháp định tính và điều tra thực tế:

  • Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Nhận diện kinh tế nông hộ trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể, chỉ ra giới hạn lịch sử trong mối quan hệ với các thành phần kinh tế khác của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Phương pháp trừu tượng hóa khoa học: Gạt bỏ các yếu tố ngẫu nhiên, ít tác động để tập trung vào các nhân tố quyết định xu hướng vận động của nông hộ như cơ chế thị trường, áp lực cạnh tranh và tiến trình hội nhập quốc tế (áp dụng chủ yếu tại Chương 2 và Chương 3).
  • Phương pháp thống kê - so sánh: Sử dụng các bảng biểu, số liệu giai đoạn 2001-2014 để so sánh các quy mô sản xuất, hiệu quả chi phí, lợi nhuận giữa nông hộ sản xuất nhỏ và nông hộ tham gia liên kết, kinh tế trang trại.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Đánh giá thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của quá trình chuyển biến kinh tế nông hộ (sử dụng xuyên suốt các chương, trọng tâm là Chương 3 và Chương 4).
  • Phương pháp logic - lịch sử: Tìm ra nguồn gốc và các lực cản cản trở nông hộ tiến lên sản xuất hàng hóa lớn.
  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Tác giả thiết kế phiếu khảo sát gồm 20 câu hỏi về tính cần thiết của tổ chức hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại; vai trò của doanh nghiệp, nhà khoa học và Nhà nước trong liên kết sản xuất. Mẫu điều tra gồm 45 người: 35 nông dân, 5 chủ trang trại và 5 cán bộ quản lý (chủ nhiệm hợp tác xã, lãnh đạo cấp xã và cấp huyện phụ trách nông nghiệp).

Nguồn dữ liệu của luận án bao gồm: số liệu thống kê chính thức của Tổng cục Thống kê, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; các văn bản quy phạm pháp luật; báo cáo tổng kết thực tiễn từ các doanh nghiệp và hợp tác xã (Công ty CP Bảo vệ thực vật An Giang, Công ty CP Mía đường Lam Sơn, HTX Evergrowth, HTX Thới An); tài liệu từ các hội thảo khoa học và kết quả khảo sát từ phiếu điều tra của tác giả.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước liên quan trực tiếp đến kinh tế hộ nông dân theo hai nhóm nội dung lý luận và thực tiễn. Tác giả chỉ ra các khoảng trống khoa học cần bổ sung và khẳng định đề tài nghiên cứu dưới giác độ Kinh tế chính trị là cần thiết nhằm đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn xây dựng nền nông nghiệp hàng hóa lớn ở Việt Nam.

Chương 2: Xu hướng phát triển kinh tế nông hộ lên sản xuất lớn trong kinh tế thị trường: Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm

Tác giả phân tích các khái niệm cơ bản, xác định kinh tế nông hộ có 06 đặc điểm phổ biến:

  1. Là hình thức tổ chức kinh tế đặc thù của nông dân dựa trên quan hệ gia đình.
  2. Đối tượng sản xuất là nông nghiệp, mang nặng tính tự cấp tự túc và thiếu liên kết.
  3. Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, cuộc sống của nông dân gắn liền với đất đai.
  4. Sử dụng sức lao động của gia đình là chủ yếu.
  5. Vừa là đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là đơn vị sản xuất, vừa là đơn vị tiêu dùng; thống nhất giữa đơn vị kinh tế và đơn vị xã hội.
  6. Hộ nông dân luôn là lực lượng yếu thế nhất trong xã hội trước rủi ro thiên nhiên và thị trường.

Luận án chỉ rõ 05 ưu thế của kinh tế nông hộ trong nền sản xuất nhỏ: thích hợp nhất với trình độ kỹ thuật thủ công; sử dụng hợp lý nguồn lao động gia đình; có tính ổn định cao hơn doanh nghiệp lớn trước biến động khủng hoảng kinh tế; giảm thiểu mức đầu tư và chi phí quản lý; là lực lượng chủ yếu nuôi sống xã hội.

Ngược lại, trước yêu cầu của nền sản xuất lớn hiện đại, kinh tế nông hộ bộc lộ 04 giới hạn:

  1. Tư duy và tập quán sản xuất nhỏ không phù hợp với kinh tế thị trường.
  2. Việc áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật rất hạn chế do ruộng đất manh mún và trình độ học vấn của nông dân thấp.
  3. Sản xuất và tiêu thụ thường bị động, chạy theo thị trường, dễ chịu thiệt thòi bởi quy luật cánh kéo giá.
  4. Thiếu tầm nhìn dài hạn, dễ chạy theo lợi ích trước mắt.

Về khái niệm sản xuất lớn, luận án dẫn chiếu quan điểm của C. Mác trong Bộ Tư bản (Chương XIII: "Máy móc và đại công nghiệp") và V.I. Lê-nin về cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội là đại công nghiệp. Nền nông nghiệp sản xuất lớn là nền nông nghiệp tập trung, hiện đại hóa, dựa trên kỹ thuật công nghiệp, có năng suất lao động cao và tỷ suất hàng hóa lớn.

Từ đó, luận án làm rõ các xu hướng vận động chuyển đổi kinh tế nông hộ lên sản xuất lớn:

  • Xu hướng phát triển kinh tế trang trại thông qua tích tụ và tập trung đất đai.
  • Xu hướng phát triển theo hình thức liên kết ngang: thành lập các tổ hợp tác và hợp tác xã kiểu mới.
  • Xu hướng phát triển theo hình thức liên kết dọc: kết nối nông hộ với doanh nghiệp chế biến, phân phối thông qua hợp đồng kinh tế.

Chương này cũng tổng kết kinh nghiệm của Nhật Bản (phát triển hệ thống Hợp tác xã Nông nghiệp Nokyo đa chức năng), Trung Quốc (chuyển đổi từ mô hình khoán hộ sang tập trung ruộng đất và phát triển xí nghiệp hương trấn), Thái Lan (chính sách khuyến khích sản xuất nông sản xuất khẩu theo hợp đồng); rút ra bài học cho Việt Nam về vai trò điều tiết của Nhà nước, tổ chức kinh tế hợp tác và hoàn thiện hệ thống tín dụng nông thôn.

Chương 3: Quá trình chuyển kinh tế nông hộ lên sản xuất lớn trong kinh tế thị trường ở Việt Nam từ năm 2000 đến nay

Chương 3 rà soát khung khổ thể chế: Nghị quyết số 10/NQ-TW (1988), Luật Đất đai các năm 1993, 2003, 2013, Nghị quyết số 26/NQ-TW (2008) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Quyết định 80/2002/QĐ-TTg và Quyết định 62/2013/QĐ-TTg về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết gắn sản xuất với tiêu thụ nông sản.

Thực trạng chuyển biến kinh tế nông hộ giai đoạn 2000-2014 được phân tích cụ thể qua 3 xu hướng vận động:

Xu hướng vận động Biểu hiện thực tế tại Việt Nam (Giai đoạn 2000 - 2014) Dữ liệu, mô hình minh chứng trong luận án
1. Hình thành và phát triển kinh tế trang trại Số lượng trang trại gia tăng; mở rộng quy mô diện tích và vốn; chuyển mạnh sang chuyên canh trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản. - Bảng 3.1: Biến động trang trại và lao động hộ chủ trang trại 2001 - 2012.
- Bảng 3.2: Một số chỉ tiêu chủ yếu của kinh tế trang trại.
- Biểu đồ 3.1: Chi phí và lợi nhuận theo quy mô diện tích tính trên 1 kg thóc (VAM 2006).
2. Liên kết ngang (Tổ hợp tác, Hợp tác xã) Các HTX nông nghiệp chuyển đổi theo Luật HTX; hình thành các tổ hợp tác liên kết cùng ngành nghề; hỗ trợ dịch vụ đầu vào và chuyển giao kỹ thuật. - Bảng 3.3: Một số chỉ tiêu của khu vực HTX 2001 - 2014.
- Mô hình HTX chăn nuôi bò sữa Evergrowth (Sóc Trăng).
- Mô hình HTX thủy sản Thới An (Cần Thơ).
- Hộp 3.2 & Hộp 3.4: Trăn trở và góc nhìn của Chủ nhiệm HTX.
3. Liên kết dọc (Nông hộ - Doanh nghiệp) Nông hộ ký kết hợp đồng tiêu thụ nông sản với doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu; hình thành chuỗi giá trị và mô hình Cánh đồng mẫu lớn. - Sơ đồ 1.1: Cấu trúc của liên kết dọc.
- Bảng 3.4: Một số chỉ tiêu chủ yếu của AGPPS 2011 - 2013.
- Bảng 3.5: Mức tiết kiệm trung bình của hộ nông dân tham gia liên kết.
- Bảng 3.6: Hiệu quả sản xuất vụ lúa Hè - Thu của mô hình so với ngoài mô hình.
- Mô hình Công ty CP Mía đường Lam Sơn (LASUCO).

Luận án chỉ ra các thành tựu: năng suất cây trồng vật nuôi tăng, sản lượng nông sản hàng hóa xuất khẩu tăng trưởng mạnh (gạo, cà phê, cao su, thủy sản), đời sống nông dân được cải thiện, xuất hiện nhiều hộ sản xuất kinh doanh giỏi. Tuy nhiên, quá trình này tồn tại nhiều hạn chế: đất đai vẫn còn tình trạng phân tán, manh mún cản trở cơ giới hóa đồng bộ; tình trạng phá vỡ hợp đồng liên kết dọc xảy ra phổ biến ở cả hai phía (doanh nghiệp ép giá hoặc nông dân bán ra ngoài khi giá thị trường tăng); các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp chậm đổi mới; nông dân vẫn chịu rủi ro lớn nhất do bị ép giá vật tư đầu vào và giá nông sản đầu ra.

Chương 4: Quan điểm và giải pháp thúc đẩy kinh tế nông hộ phát triển lên sản xuất lớn trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Tác giả đánh giá bối cảnh mới: tác động của toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế (AFTA, gia nhập WTO, đàm phán TPP), biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp và yêu cầu của đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp.

Luận án nêu quan điểm: chuyển kinh tế nông hộ lên sản xuất lớn phải quán triệt đường lối của Đảng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; phải phù hợp với quy luật kinh tế khách quan; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó công nghiệp hóa nông nghiệp gắn liền với hiện đại hóa nông thôn và nâng cao đời sống nông dân; bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và nông dân.

Luận án đề xuất 06 nhóm giải pháp chủ yếu:

  1. Đổi mới chính sách và luật pháp về đất đai: Sửa đổi hạn mức nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tích tụ, tập trung ruộng đất; bảo đảm quyền sử dụng đất lâu dài để nông dân yên tâm đầu tư; hài hòa lợi ích khi thu hồi đất.
  2. Phát triển các hợp tác xã và tổ hợp tác kiểu mới: Nâng cao năng lực quản trị của hợp tác xã, đổi mới cơ chế phân phối lợi ích, chuyển mạnh sang làm dịch vụ chế biến và tiêu thụ sản phẩm cho xã viên.
  3. Phát triển các mô hình liên kết gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông sản: Nhân rộng mô hình Cánh đồng mẫu lớn; xây dựng cơ chế giám sát thực hiện hợp đồng tiêu thụ nông sản; ràng buộc trách nhiệm pháp lý giữa doanh nghiệp và nông dân.
  4. Phát triển mạnh hình thức trang trại nông, lâm nghiệp, thủy sản: Hỗ trợ về vốn tín dụng, chuyển giao công nghệ sinh học và đào tạo kỹ năng quản lý cho các chủ trang trại.
  5. Chuyển một bộ phận lớn nông hộ kinh doanh độc lập sang hoạt động ngành nghề phi nông nghiệp hoặc kiêm nghề: Phát triển công nghiệp chế biến, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ tại chỗ nhằm rút bớt lao động nông nghiệp dư thừa.
  6. Nâng cao vai trò Nhà nước trong quá trình chuyển kinh tế nông hộ lên sản xuất lớn: Quy hoạch vùng sản xuất tập trung; đầu tư kết cấu hạ tầng nông thôn; kiểm soát giá vật tư đầu vào; cung cấp thông tin thị trường và hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp.

Kết quả và những đóng góp mới

Các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn mà luận án tự nêu bao gồm:

  • Về lý luận: Làm rõ hơn vị trí kinh tế - xã hội của kinh tế nông hộ trong nền kinh tế thị trường; luận giải tính tất yếu khách quan của xu hướng phát triển kinh tế nông hộ lên sản xuất lớn; phân tích các điều kiện kinh tế - xã hội cần thiết để hiện thực hóa xu hướng này trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.
  • Về thực tiễn: Đánh giá có hệ thống thực trạng vận động của kinh tế nông hộ từ sau Đổi mới, đặc biệt trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2014; chỉ ra các giới hạn lịch sử của kinh tế nông hộ và phân tích cụ thể 3 xu hướng phát triển thực tế (kinh tế trang trại, liên kết ngang qua hợp tác xã kiểu mới, liên kết dọc chuỗi giá trị nông sản).
  • Về mặt chính sách: Đề xuất hệ thống quan điểm định hướng và 06 nhóm giải pháp đồng bộ nhằm hoàn thiện thể chế đất đai, tổ chức lại sản xuất hợp tác, phát triển chuỗi liên kết và nâng cao vai trò kiến tạo của Nhà nước.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế: Do nguồn lực và phạm vi nghiên cứu tiếp cận dưới giác độ Kinh tế chính trị, phạm vi điều tra xã hội học bằng bảng hỏi của tác giả còn ở quy mô hẹp (45 phiếu hỏi), chủ yếu phục vụ cho việc kiểm chứng thực tế mà chưa bao quát đầy đủ mọi vùng sinh thái nông nghiệp trên toàn quốc. Các dữ liệu khảo sát mô hình tập trung nhiều tại một số địa bàn trọng điểm như Đồng bằng sông Cửu Long, Bắc Trung Bộ.

Về hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục theo dõi, đánh giá tác động thực tế của Luật Đất đai năm 2013 sau khi đi vào đời sống đối với quá trình tích tụ ruộng đất; nghiên cứu sâu hơn về cơ chế giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế giữa nông dân và doanh nghiệp trong các mô hình liên kết dọc; phân tích tác động dài hạn của các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế thế hệ mới đối với năng lực cạnh tranh của nông hộ sản xuất lớn.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các ngành Kinh tế chính trị, Kinh tế phát triển, Kinh tế nông nghiệp khi nghiên cứu về lý luận kinh tế hộ của chủ nghĩa Mác - Lênin, lý thuyết Chayanov và các mô hình tổ chức sản xuất nông nghiệp hàng hóa.
  • Giảng viên các trường đại học, viện nghiên cứu phục vụ giảng dạy các chuyên đề về nông nghiệp, nông thôn và nông dân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
  • Các cơ quan hoạch định chính sách (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ban Kinh tế Trung ương, Hội Nông dân Việt Nam, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam) trong việc rà soát cơ chế liên kết "Cánh đồng mẫu lớn", hoàn thiện chính sách tích tụ đất đai và đổi mới hợp tác xã nông nghiệp.
  • Các phần đáng tham khảo trực tiếp: Hệ thống hóa lý luận về ưu thế và giới hạn của kinh tế nông hộ (Chương 2); phân tích thực trạng các chỉ tiêu của mô hình liên kết AGPPS, HTX Evergrowth (Chương 3); và 06 nhóm giải pháp chính sách (Chương 4).

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận án định nghĩa kinh tế nông hộ là gì và phân biệt với kinh tế hộ gia đình nói chung ra sao? Luận án xác định kinh tế nông hộ (hay kinh tế hộ nông dân) là một tổ chức kinh tế thuộc sở hữu của hộ gia đình, hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và một số hoạt động phi nông nghiệp khác, trong đó các thành viên cùng sở hữu tài sản, cùng lao động và cùng thụ hưởng thu nhập do lao động của họ tạo ra. Điểm khác biệt với kinh tế hộ nói chung là kinh tế nông hộ gắn liền với đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, hoạt động cốt lõi là nông - lâm - ngư - diêm nghiệp, và sản xuất mang nặng tính tự cung tự cấp hơn so với các hộ kinh doanh tiểu thủ công nghiệp hay thương mại - dịch vụ.

  2. Theo luận án, kinh tế nông hộ có những ưu thế và giới hạn cơ bản nào? Kinh tế nông hộ có 05 ưu thế trong nền sản xuất nhỏ: phù hợp với kỹ thuật thủ công, tận dụng tối đa lao động gia đình, có tính ổn định cao trước biến động thị trường, tiết kiệm chi phí đầu tư và quản lý, là lực lượng nuôi sống toàn xã hội. Tuy nhiên, trước yêu cầu sản xuất lớn, nông hộ bộc lộ 04 giới hạn: tư duy sản xuất nhỏ phân tán, rào cản ứng dụng khoa học kỹ thuật do đất đai manh mún và trình độ thấp, tính bị động trước thị trường dẫn đến rủi ro "cánh kéo giá", và thiếu tầm nhìn kinh doanh dài hạn.

  3. Luận án xác định các xu hướng chính nào để đưa kinh tế nông hộ lên sản xuất lớn tại Việt Nam? Luận án xác định 03 xu hướng vận động chính: (1) Phát triển kinh tế trang trại thông qua tích tụ và tập trung ruộng đất; (2) Phát triển liên kết ngang bằng cách thành lập các tổ hợp tác và hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới; (3) Phát triển liên kết dọc giữa nông hộ với doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ, hình thành chuỗi giá trị nông sản và mô hình Cánh đồng mẫu lớn.

  4. Quy mô và đối tượng khảo sát bằng bảng hỏi của luận án được tiến hành như thế nào? Tác giả đã thiết kế bảng hỏi gồm 20 câu hỏi xoay quanh vai trò của tổ hợp tác, hợp tác xã, trang trại, mối liên kết với doanh nghiệp, nhà khoa học và vai trò hỗ trợ của Nhà nước. Phiếu điều tra được gửi tới 45 người, cơ cấu mẫu gồm: 35 hộ nông dân, 5 chủ trang trại và 5 cán bộ quản lý (chủ nhiệm hợp tác xã, lãnh đạo cấp xã và cấp huyện phụ trách nông nghiệp).

  5. Những mô hình thực tế điển hình nào được luận án sử dụng để phân tích liên kết dọc và liên kết ngang? Luận án dẫn chứng và phân tích số liệu thực tế từ: mô hình Cánh đồng mẫu lớn của Công ty Cổ phần Bảo vệ thực vật An Giang (AGPPS) qua các chỉ tiêu diện tích, mức tiết kiệm chi phí và hiệu quả lúa Hè - Thu; mô hình liên kết mía đường của Công ty Cổ phần Mía đường Lam Sơn (LASUCO); mô hình hợp tác xã chăn nuôi bò sữa Evergrowth tại Sóc Trăng; mô hình hợp tác xã thủy sản Thới An tại Cần Thơ và HTX 19/5 tại Sơn La.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Đặng Thị Thu Hiền (2015) là công trình nghiên cứu hệ thống dưới góc độ Kinh tế chính trị về quá trình chuyển biến của kinh tế nông hộ Việt Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Bằng việc kết hợp lý luận Mác - Lênin, lý thuyết kinh tế nông dân với thực tiễn giai đoạn 2000-2014, luận án đã làm rõ tính hai mặt của kinh tế nông hộ, chỉ ra giới hạn lịch sử của sản xuất nhỏ và khẳng định tính tất yếu của ba xu hướng vận động lên sản xuất lớn: trang trại, liên kết ngang và liên kết dọc. Hệ thống 06 nhóm giải pháp được đề xuất cung cấp cơ sở khoa học cho việc điều chỉnh chính sách đất đai, đổi mới mô hình hợp tác xã và hoàn thiện chuỗi liên kết nông sản tại Việt Nam.