Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về phát triển hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại - Chương 2: Phát triển hoạt động kinh doanh ngoại tệ của Ngân hàng VPBank - Chương 3: Định hướng và một số giải pháp cơ bản để phát triển hoạt động kinh doanh ngoại tệ của Ngân hàng VPBank trong giai đoạn tiếp theo. 7 z CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KDNT CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm và đặc điểm của hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại Mỗi quốc gia trên thế giới lưu hành và sử dụng đồng tiền riêng, khi thương mại giữa các nước phát triển, nhu cầu mua bán, thanh toán gặp khó khăn trong việc chuyển đổi các loại tiền tệ. Quá trình đó thúc đẩy sự ra đời của các tổ chức chuyên biệt chuyên đảm nhận chức năng trung gian trong lưu thông tiền tệ như nhận đổi tiền và giữ tiền…Lúc đầu các hoạt động này không vì mục tiêu lợi nhuận mà đơn thuần là để cho giao dịch được tiện lợi, tuy nhiên dần dần các hình thức này trở nên phức tạp, đa dạng hơn để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao, đồng thời các tổ chức chuyên biệt cũng cần có kinh phí để duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh và hoạt động kinh doanh ngoại tệ phát sinh từ đó. Hiện nay, thương mại giữa các nước trên thế giới và sự phát triển của hệ thông ngân hàng đã làm cho hoạt động KDNT phát triển đa đạng và phong phú hơn.
Ở các ngân hàng hiện đại, ngoài việc kinh doanh ngoại tệ vì mục đích lợi nhuận, các giao dịch ngoại tệ cũng được sử dụng để phòng tránh rủi ro.Sự phát triển của thương mại thế giới kéo theo sự phát triển của KDNT, ngược lại sự phát triển của KDNT cũng làm tiền đề, nền tảng để hoạt động ngoại thương được phát triển lên tầm cao hơn. Kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại là việc mua và bán các loại ngoại tệ của ngân hàng nhằm mục đích mang lại lợi nhuận. 8 z Vai trò của các hoạt động nghiệp vụ kinh doanh cụ thể là một công cụ đầu cơ của các ngân hàng. Trừ khi phòng ngừa rủi ro tìm được một người phòng ngửa rủi ro khác có nhu cầu hoàn toàn đối lập với mình, rủi ro của người phòng ngừa rủi ro phải được hấp thụ bởi các nhà đầu cơ.
Như vậy nếu coi các hợp đồng ngoại tệ phái sinh là công cụ phòng ngừa rủi ro của các công ty, doanh nghiệp thì đây chính là cơ hội thực hiện hoạt động đầu cơ của các ngân hàng. Thị trường tài chính ngày càng phát triển cũng là lúc các ngân hàng cần phải đa dạng hóa các nghiệp vụ để phục vụ nhu cầu ngày càng cao của các khách hàng vì mục tiêu cốt lõi của tất cả các hoạt động ngân hàng là cung cấp dịch vụ cho khách hàng, đồng thời vì mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận và phòng ngừa rủi ro cho chính các ngân hàng Khi phát triển các hoạt động kinh doanh ngoại tệ, các NHTM có thể tăng doanh thu từ phí dịch vụ như phí thanh toán quốc tế, phí môi giới., mở rộng hệ thống ngân hàng đại lý và mạng lưới thanh toán quốc tế. Việc mở rộng quan hệ đại lý sẽ tạo điều kiện cho các NHTM có thể chia sẻ thông tin, trao đổi nghiệp vụ, tiếp cận thị trường mới cũng như tranh thủ được công nghệ ngân hàng, trình độ quản lý tiên tiến từ các quốc gia có nền kinh tế phát triển, dành cho nhau những ưu đãi trong tín dụng, trong mức phí dịch vụ ngân hàng, trong đào tạo nguồn nhân lực. Ngoài ra, việc thực hiện hoạt động kinh doanh ngoại tệ sẽ giúp các NHTM tránh được rủi ro về tỷ giá, rủi ro về lãi suất bằng các biện pháp sau: - Hợp đồng kỳ hạn ngoại tệ hoặc hợp đồng tương lại ngoại tệ: Nguyên tắc chung khi sử dụng hợp đồng kỳ hạn hoặc hợp đồng tương lai để phòng ngừa rủi ro tỷ giá là thông qua các hợp đồng này, các ngân hàng cố định tỷ giá mua ngoại tệ hay tỷ giá bán ngoại tệ với ngân hàng khác, từ đó cố định trước các khoản chi trả hay thu nhập bằng nội tệ bất luận biến động của tỷ giá trên 9 z thị trường.
Tuy nhiên, hợp đồng kỳ hạn chưa phải là cách phòng chống rủi ro hối đoái tốt nhất đồng thời cũng đánh mất cơ hội kinh doanh kiếm lời nếu tỷ giá thị trường đi ngược lại với dự kiến. - Sử dụng hợp đồng quyền chọn: Thông qua hợp đồng này, một mặt khách hàng thỏa mãn nhu cầu về ngoại tệ của mình, mặt khác khách hàng sẽ có quyền không thực hiện hợp đồng nếu thấy hợp đồng hoặc thị trường có những biến động bất lợi cho hoạt động kinh doanh của mình. - Sử dụng hợp đồng hoán đổi ngoại tệ: Khi sử dụng hợp đồng này, khách hàng được thỏa mãn nhu cầu về ngoại tệ của mình, đồng thời có được sự cam kết của ngân hàng về số ngoại tệ sẽ nhận lại trong tương lai theo một tỷ giá biết trước Như vậy, ngân hàng luôn tìm mọi cách để hạn chế các rủi ro về tỷ giá hối đoái đến mức thấp nhất thông qua nghiệp vụ KDNT. Các phương pháp phòng ngừa rủi ro hối đoái chỉ thực hiện được khi có một thị trường tiền tệ phát triển và NHTM sẵn sàng cung cấp các hợp đồng này, hay các hợp đồng vay và cho vay trên thị trường tiền tệ.
Cuối cùng, hoạt động KDNT giúp các NHTM dự trữ nhiều loại ngoại tệ. Từ đó, phân tán đều rủi ro, tránh gây tổn thất nặng nề cho ngân hàng khi tỷ giá một loại ngoại tệ nào đó đột nhiên biến động mạnh. Với việc đa dạng hóa các loại ngoại tệ mạnh một cách chủ động trong kinh doanh sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng thực hiện đa dạng và phát triển thêm các nghiệp vụ KDNT khác nhau như quy đổi, điều chuyển vốn giữa các ngoại tệ với nhau trên các tài khoản tiền gửi ngân hàng tại các ngân hàng nước ngoài nhằm đảm bảo thanh toán xuất nhập khẩu, hưởng chênh lệch tỷ giá và lãi suất.2 Các nghiệp vụ cụ thể trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại 10 z Khi kinh tế xã hội ngày càng phát triển thì các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ đang ngày càng đa dạng và phát triển, tuy nhiên các nghiệp vụ cơ bản nhất có thể kể đến như: giao ngay, kỳ hạn, hoán đổi, quyền chọn, tương lai.1 Nghiệp vụ giao ngay (Spot) Nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ giao ngay là nghiệp vụ hai bên thực hiện mua bán một lượng ngoại tệ theo tỷ giá giao ngay tại thời điểm giao dịch và kết thúc thanh toán trong vòng 02 (hai) ngày làm việc tiếp theo. Trong giao dịch giao ngay, ngày giá trị được hai bên thỏa thuận có thể: - Trùng với ngày giao dịch (Value today) - Bằng ngày giao dịch + 01 (một) ngày làm việc (Value tomorrow) - Bằng ngày giao dịch + 02 (hai) ngày làm việc (Value spot) Tỷ giá giao ngay tại Việt Nam giữa đồng VND và USD không được vượt quá biên độ tỷ giá do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định trong từng thời kỳ.
Giao dịch giao ngay là nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ đơn giản, dễ thực hiện nhất và khá phổ biến trên thị trường hối đoái, đặc biệt là ở Việt Nam. Tỷ giá mua bán trong giao dịch này được lấy trực tiếp từ tỷ giá giao ngay đã được niêm yết trên thị trường tại thời điểm giao dịch. Tuy nhiên, trong những trường hợp muốn giao dịch giữa hai loại ngoại tệ mà tỷ giá giữa chúng chưa được niêm yết sẵn thì các nhà kinh doanh sẽ phải tự xác định bằng kỹ thuật tính chéo tỷ giá. Trong giao dịch giao ngay, ngân hàng không thu phí giao dịch hay hoa hồng mà sử dụng chênh lệch giữa tỷ giá bán và tỷ giá mua để trang trải các chi phí giao dịch kể cả bù đắp rủi ro và thu lợi nhuận.2 Nghiệp vụ kỳ hạn (Forward) Nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ kỳ hạn là nghiệp vụ hai bên cam kết sẽ mua, bán với nhau một lượng ngoại tệ theo một mức tỷ giá xác định và việc thanh toán sẽ được thực hiện vào một thời điểm xác định trong tương lai 11 z Giao dịch kỳ hạn tại Việt Nam có một số đặc điểm: Về kỳ hạn của các giao dịch kỳ hạn (theo quyết định số QĐ 1452/2004/QĐ-NHNN ngày 10/11/2004 về giao dịch hối đoái của các TCTD được phép hoạt động ngoại hối): - Kỳ hạn của các giao dịch kỳ hạn giữa VND và ngoại tệ khác: từ 3 đến 365 ngày - Kỳ hạn của các giao dịch kỳ hạn giữa các ngoại tệ với nhau: do TCTD và khách hàng tự thỏa thuận Nguyên tắc xác định tỷ giá kỳ hạn theo quyết định 648/2004/QĐ-NHNN ngày 28/05/2004 như sau: - Tỷ giá kỳ hạn do TCTD và khách hàng thỏa thuận - Tỷ giá kỳ hạn giữa VND và USD không được vượt quá mức tỷ giá được xác định trên cơ sở: o Tỷ giá giao ngay vào ngày ký hợp đồng o Chênh lệch giữa hai mức lãi suất hiện hành: lãi suất cơ bản của đồng Việt Nam (%/năm) và lãi suất mục tiêu của đô la Mỹ (%/năm) o Kỳ hạn của hợp đồng Bên cạnh việc sử dụng công cụ giao dịch hối đoái có kỳ hạn để bù đắp rủi ro, việc mua và bán ngoại tệ có kỳ hạn có thể nhằm mục đích sinh lời dựa vào sự biến động của tỷ giá.
Trong trường hợp đó, người mua và người bán cùng sẵn sàng chấp nhận rủi ro hối đoái: người mua ngoại tệ hy vọng rằng họ có thể bán lại bằng nghiệp vụ trao ngay để kiếm lời tại thời điểm họ nhận được ngoại tệ; người bán cũng hy vọng mua lại số ngoại tệ đó bằng nghiệp vụ trao ngay với giá rẻ hơn tại thời điểm kết thúc giao dịch có kỳ hạn mà họ vừa bán ngoại tệ. Điều kiện để thực hiện nghiệp vụ kỳ hạn là: Có các quy định của pháp luật về xác định tỷ giá kỳ hạn, phí hợp đồng. 12 z Khách hàng biết đến nghiệp vụ này của ngân hàng và có yêu cầu thực hiện nó nhằm tránh rủi ro do những biến động bất thường của tỷ giá ảnh hưởng bất lợi tới hoạt động kinh doanh của khách hàng. Khả năng của ngân hàng để đáp ứng yêu cầu của khách hàng.
Nếu ngân hàng chỉ thực hiện một nghiệp vụ kỳ hạn đơn lẻ, ngân hàng có thể phải gánh chịu một rủi ro hối đoái thay cho khách hàng của mình.