Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP 1. Khu công nghiệp và vai trò của khu công nghiệp 1. Khái niệm về khu công nghiệp KCN đã được hình thành và phát triển ở các nước tư bản phát triển vào những năm cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XX.
Năm 1896, KCN đầu tiên được thành lập ở Manchester (Anh) và vùng CN Clearing Chicago (Mỹ). Năm 1904, Ý thành lập KCN ở Napoli. và sau những năm 50 của thế kỉ XX thì sự phát triển các KCN mới bắt đầu bùng nổ. Như vậy, lịch sử hình thành và phát triển các KCN trên thế giới đã có hơn 100 năm.
Ở Việt Nam, KCN đầu tiên được thành lập ở thành phố Hồ Chí Minh (KCX Tân Thuận), cùng với quá trình 20 năm hình thành và phát triển cũng đã xuất hiện nhiều khái niệm khác nhau về KCN. - Theo Quy chế KCN, KCX, KCNC ban hành kèm theo Nghị định 36/CP của Chính phủ ngày 24/4/1997, thì: + KCN là khu tập trung các DN chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có danh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng chính phủ quyết định thành lập. Trong KCN có khu chế xuất. + KCX là KCN tập trung các DN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có danh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng chính phủ quyết định thành lập.
+ KCNC là khu tập trung các DN CN kỹ thuật cao và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao bao gồm nghiên cứu, triển khai 9 khoa học công nghệ, đào tạo và các dịch vụ liên quan, có danh giới địa lý xác định; do Chính phủ hoặc Thủ tướng chính phủ quyết định thành lập. Trong KCNC có thể có DN chế xuất. - Theo Luật đầu tư năm 2005, khoản 20, 21, 22, 23 điều 3 ghi rõ: + KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có danh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ. + KCX là KCN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có danh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ.
+ Khu công nghệ cao là khu chuyên nghiên cứu phát triển, ứng dụng công nghệ cao, ươm tạo DN công nghệ cao, đào tạo nhân lực công nghệ cao, sản xuất và kinh doanh sản phẩm công nghệ cao, có danh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ. - Theo Nghị định 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ quy định: + KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này. + KCX là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với khu công nghiệp quy định tại Nghị định này. Từ các khái niệm trên và thực tế quá trình phát triển KCN ở Việt Nam, có thể hiểu một cách tổng quát về KCN như sau: "KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có danh giới địa lý xác định, có kết cấu hạ tầng kỹ thuật - xã hội đồng bộ, đảm bảo cho sản xuất kinh doanh và đời sống của người lao động, được thành lập 10 theo quy định của chính phủ.
Trong KCN có thể có DN chế xuất và DN công nghệ cao. Phân loại các KCN Tuỳ theo góc độ tiếp cận khác nhau, có thể phân loại KCN như sau: - Theo tính chất ngành nghề: Theo tiêu chí này thì KCN được chia thành 3 loại: KCN chuyên ngành, KCN đa ngành, KCN sinh thái. + KCN chuyên ngành: gồm các xí nghiệp công nghiệp cùng ngành nghề hoặc từ một số ít ngành nghề khác nhau nhưng cùng sản xuất ra một số loại sản phẩm, chủ yếu từ các ngành chủ đạo như: hoá chất - hoá dầu, điện tử - tin học, vật liệu xây dựng, chế tạo và lắp ráp cơ khí. + KCN đa ngành: gồm các xí nghiệp thuộc nhiều ngành công nghiệp khác nhau.
KCN đa ngành cho phép thoả mãn được yêu cầu về lãnh thổ cho sản xuất công nghiệp, song trong quy hoạch xây dựng cần chú ý vấn đề môi trường nhằm hạn chế tác động xấu giữa các DN với nhau. + KCN sinh thái: là mô hình mang tính cộng sinh công nghiệp. Các ngành công nghiệp được lựa chọn sao cho các nhà máy có mối liên hệ với nhau, hỗ trợ và tương tác với nhau tạo nên môi trường sạch và bền vững. Với mô hình này thì phế liệu của nhà máy này có thể làm nguyên liệu cho nhà máy kia hoặc sản phẩm của nhà máy này sẽ là nguyên liệu, vật tư của nhà máy kia.
- Theo quy mô diện tích: Phân loại theo tiêu chí này, phụ thuộc vào quan điểm của từng nước, chủ yếu để phục vụ cho việc xếp hạng KCN. Thông thường có 4 loại là: KCN nhỏ, trung bình, lớn và rất lớn. - Theo các điều kiện hình thành: 11 Theo cách phân loại này có: các KCN thành lập mới, KCN nâng cấp mở rộng và KCN di dời tập trung. - Theo đặc điểm và cấp quản lý: Theo tiêu chí này có 3 loại: KCN do chính phủ thành lập; KCN do UBND tỉnh, thành phố quyết định thành lập; KCN do UBND huyện, thị quyết định thành lập.
Đặc điểm của khu công nghiệp Hiện nay, các KCN được phát triển ở hầu hết các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển. Mặc dù có sự khác nhau về quy mô, địa điểm, phương thức xây dựng cơ sở hạ tầng, nhưng nhìn chung các KCN có các đặc điểm chủ yếu sau: - KCN là một tổ chức không gian lãnh thổ công nghiệp, luôn gắn liền phát triển công nghiệp với xây dựng cơ sở hạ tầng và hình thành mạng lưới đô thị, phân bố dân cư hợp lý. - KCN có chính sách kinh tế đặc thù và ưu đãi nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tạo môi trường đầu tư thuận lợi và hấp dẫn. KCN cho phép các doanh nghiệp sử dụng những phạm vi đất đai nhất định bên trong KCN để thành lập các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở kinh tế, dịch vụ với nhiều ưu đãi như: thủ tục hành chính, giá thuê đất.
- Về tính chất hoạt động: KCN là nơi tập trung và thu hút các DN sản xuất công nghiệp và các DN cung cấp các dịch vụ gắn liền với hoạt động sản xuất công nghiệp gọi chung là DN Khu công nghiệp. - Về cơ sở hạ tầng kỹ thuật: các KCN đều xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng với những điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh như: hệ thống đường xá, điện, nước, thông tin liên lạc, xử lý rác thải. Nguồn vốn xây dựng cơ sở hạ tầng thường do chính phủ bỏ ra để san lấp mặt bằng, làm đường giao thông. Trong trường hợp nhà nước không đủ vốn đầu tư xây 12 dựng cơ sở hạ tầng thì nhà nước có thể kêu gọi vốn đầu tư nước ngoài và trong nước.
Việc xây dựng cơ sở hạ tầng trong KCN thường do một công ty phát triển cơ sở hạ tầng đảm nhiệm. Các công ty này có thể là DN trong nước, DN 100% vốn nước ngoài, DN liên doanh thực hiện. Các công ty phát triển cơ sở hạ tầng KCN sẽ xây dựng kết cấu hạ tầng sau đó được phép cho các DN khác thuê lại. - Về tổ chức quản lý: trên thực tế thì các KCN đều thành lập hệ thống Ban quản lý KCN cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để trực tiếp thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động sản xuất kinh doanh trong KCN.
Ngoài Ban quản lý các KCN, tham gia quản lý tại các KCN còn có nhiều Bộ, Ngành: UBND tỉnh, thành phố; Bộ Kế hoạch đầu tư; Bộ Công thương; Bộ Xây dựng; Bộ Tài nguyên môi trường. - Sản phẩm của các doanh nghiệp KCN chủ yếu dành cho thị trường thế giới và phục vụ xuất khẩu để tăng thu ngoại tệ. Tuy nhiên, cũng có rất nhiều doanh nghiệp KCN sản xuất kinh doanh nhằm phục vụ thị trường nội địa. - Mọi hoạt động trong KCN trực tiếp chịu sự chi phối của cơ chế thị trường và diễn biến của thị trường quốc tế.
Bởi vậy, cơ chế quản lý kinh tế trong KCN đều lấy điều tiết của thị trường làm chính. - KCN có vị trí địa lý xác định nhưng không hoàn toàn tách biệt như KCX. Các chế độ quản lý hành chính, các quy định trong nội bộ KCN và với các DN ngoài KCN sẽ rộng rãi hơn. Hoạt động trong KCN sẽ là hoạt động của các tổ chức pháp nhân và các cá nhân trong và ngoài nước với các điều kiện bình đẳng.
- KCN là mô hình tổng hợp phát triển kinh tế với nhiều thành phần và nhiều hình thức sở hữu khác nhau cùng tồn tại song song. DN có vốn đầu tư nước ngoài dưới các hình thức hợp đồng, hợp tác kinh doanh, DN 100% vốn nước ngoài, DN liên doanh và DN 100% vốn trong nước. Vai trò của khu công nghiệp Ở hầu hết các nước đang phát triển, KCN đã và đang trở thành mô hình phát triển kinh tế quan trọng. Ở nước ta, trải qua một thời gian xây dựng và phát triển, các KCN từng bước khẳng định được vị trí, tầm quan trọng, trở thành một động lực to lớn trong tiến trình CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế.
Vai trò của KCN thể hiện ở những nội dung sau: Thứ nhất, KCN tạo điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư. Giống như các nước đang phát triển khác, Việt Nam rất cần vốn, kỹ thuật, thị trường và kinh nghiệm quản lý doanh nghiệp công nghiệp. Song, môi trường kinh doanh tổng thể của đất nước chưa đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư như: điều kiện kết cấu hạ tầng, lao động có tay nghề cao, chất lượng quản lý hành chính. Nếu chờ đầu tư để cải thiện môi trường chung thì vừa lâu vừa không khả thi vì nguồn lực trong nước cũng như khả năng hấp thu vốn của nền kinh tế còn thấp.