CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KHAI THÁC THỦY SẢN XA BỜ 1. TỔNG QUAN VỀ KHAI THÁC THỦY SẢN XA BỜ 1. Một số khái niệm - Phát triển Phát triển là tạo ra cái mới hoặc hoàn thiện, làm thay đổi về căn bản cái đã có để có cái tốt hơn, tiến bộ hơn. Cái mới, cái được hoàn thiện (tức phát triển) có thể có hai khía cạnh chính: Phát triển về số lượng và phát triển về chất lượng.
Như vậy, phát triển chỉ sự trưởng thành, lớn hơn về chất và về lượng. Nói cách khác, phát triển là tất cả các hoạt động tìm kiếm nhằm tạo ra cái mới, có thể làm tăng về số lượng, làm cho tốt hơn về chất lượng hoặc cả hai. - Khai thác thủy sản Khai thác thuỷ sản: “ là việc khai thác nguồn lợi thuỷ sản trên biển, sông, hồ, đầm, phá và các vùng nước tự nhiên khác” (Luật Thủy sản, 2003, tr1). Là một hoạt động của con người (ngư dân) thông qua các ngư cụ, ngư thuyền và ngư pháp nhằm khai thác nguồn lợi thủy sản tự nhiên.
Sản phẩm của KTTS bao gồm: + Cá thực phẩm cho tiêu thụ trực tiếp của con người; + Con giống (cá bố mẹ, cá giống) cho Nuôi trồng thủy sản (NTTS) và cho Đánh bắt được tăng cường trên cơ sở NTTS; + Thức ăn cho gia súc và NTTS. Nguyên tắc khai thác thuỷ sản: + Khai thác thuỷ sản ở vùng biển, sông, hồ, đầm, phá và các vùng nước tự nhiên khác phải bảo đảm không làm cạn kiệt nguồn lợi thuỷ sản; phải tuân Luan van 10 theo quy định về mùa vụ khai thác, thời hạn khai thác, vùng khai thác, chủng loại và kích cỡ thuỷ sản được khai thác, sản lượng cho phép khai thác hàng năm và phải tuân theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. + Sử dụng các loại ngư cụ, phương tiện khai thác thuỷ sản có kích cỡ phù hợp với các loài thuỷ sản được phép khai thác. Khai thác thủy sản xa bờ: Là việc khai thác các nguồn lợi thủy sản ở vùng biển giới hạn bởi tuyến lộng và ranh giới ngoài của vùng đặc quyền kinh tế (từ 24 hải lý) được trang bị bởi tàu thuyền có công suất từ 90 CV trở lên.
- Phát triển khai thác thủy sản xa bờ: thực chất là phát triển hệ thống tàu thuyền, hệ thống cơ sở hạ tầng dịch vụ khai thác thủy sản, các nguồn lực vật chất tham gia: vốn, lao động, công nghệ,. trong khai thác đảm bảo nó được phát triển ổn định bằng tổng thể các phương pháp, biện pháp, chính sách khai thác, sử dụng hợp lý các nguồn lực để gia tăng kết quả, hiệu quả khai thác xa bờ, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường và xã hội. Đặc điểm của khai thác thủy sản xa bờ a. Mang tính mùa vụ, phụ thuộc điều kiện khí hậu/địa lý/sinh thái, điềuX kiện kinh tế-xã hội, thị trường.
Đây là nét điển hình nhất của ngành nông nghiệp vì qúa trình khai thác là quá trình tái sản xuất, kinh tế gắn bó với quá trình tái sản xuất tự nhiên, thời gian hoạt động và thời gian sản xuất trùng nhau. Do sự biến thiên về điều kiện thời tiết khí hậu, ngư trường, mỗi mùa có từng loại cá riêng, dẫn đến khai thác mỗi mùa cũng khác nhau. Đối tượng khai thác là sinh vật biển, chúng là những tài nguyên biển có sẵn, đa dạng Các loại sinh vật biển phát triển theo quy luật sinh học nhất định (sinh trưởng, phát triển và diệt vong). Chúng rất nhạy cảm với mọi yếu tố ngoại Luan van 11 cảnh, mọi sự thay đổi thời tiế, khí hậu đều tác động trực tiếp đến sự phát triển và diệt vong.
Sinh vật biển với tư cách là tư liệu sản xuất đặc biệt, được khai thác bằng ngư cụ làm tư liệu sản xuất cho chu trình sản xuất. Và mỗi loài sinh vật biển đều tương thích mới mỗi loại khí hậu, mực nước, vùng biển khác nhau. Chính vì vậy, chúng là những sinh vật có sẵn trong tự nhiên, môi trường nào thích hợp nó sẽ cư trú, sinh sản, phát triển. Khai thác có tính vùng Khai thác thủy sản là ngành nông nghiệp vừa là ngành công nghiệp được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phức tạp, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt.
Thế nhưng, ở mỗi ngư trường vùng biển có điều kiện có điều kiện khí hậu, thời tiết, nước biển rất khác nhau. Khai thác sinh vật biển, là những sinh vật có sẵn trong tự nhiên phụ thuộc cách sinh trưởng và phát triển mỗi nơi mỗi khác, mỗi vùng biển sẽ có những sinh vật biển khác nhau sinh sống. Chính vì vậy, do điều kiện khác nhau như vậy, đòi hỏi quá trình khai thác thủy sản xa bờ cần chú ý các vấn đề kinh tế kỹ thuật sau: - Tiến hành điều tra các nguồn tài nguyên sinh vật biển trên phạm vi biển của cả nước cũng như tính quy hoạch bố trí ngư cụ, nguyên liệu tiến hành khai thác cho phù hợp với chủng loại đó - Việc xây dựng phương hướng tiến hành khai thác phải phù hợp với đặc điểm sinh sản và sinh trưởng của nó. - Hệ thống các chính sách kinh tế phù hợp với từng điều kiện từng vùng, từng khu vực nhất định.
- Khai thác tiến hành trong thời điểm khí hậu tốt, không có bão, hay lốc gió khi đã được cảnh báo thiếu an toàn khi ra khơi. Vai trò của khai thác thủy sản xa bờ Khai thác thủy sản dần trở thành thế mạnh trên thương trường xuất khẩu, Luan van 12 có tốc tăng trưởng cao, có tỷ trọng GDP ngày càng lớn và chiếm một vị thế quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Nó được thể hiện ở các mặt sau: a. Cung cấp thực phẩm cho nhu cầu của con người, góp phần cải thiện tình trạng suy dinh dưỡng do thiếu đạm, đóng góp cho sự an toàn thực phẩm Các kết quả nghiên cứu của các chuyên gia về dinh dưỡng khẳng định hầu hết các loại thủy sản đều là những sản phẩm giàu đạm, dễ tiêu hóa, phù hợp với sinh lý dinh dưỡng ở mọi lứa tuổi.
Càng ngày thủy sản được tin tưởng như một loại thực phẩm ít gây bệnh (tim mạch, béo phì, ưng thư.) và ít chịu ô nhiễm hơn. Xét về thành phần dinh dưỡng cho thấy: so với các loại thịt, các loại thực phẩm là thủy sản có chứa ít chất mỡ hơn, nhiều chất khoáng và chất đạm hơn. Hoạt động khai thác thủy sản phát triển rộng khắp trên cả nước, góp phần tích cực chuyển đổi cơ cấu thực phẩm trong bữa ăn, cung cấp nguồn dinh dưỡng dồi dào, đáp ứng được yêu cầu cụ thể là tăng nhiều đạm và vitamin cho người dân Việt Nam. Góp phần quan trọng trong tăng trưởng của ngành NLNN Khai thác thủy sản là ngành kinh tế có khả năng tạo ra nhiều giá trị gia tăng.
Vì vậy phát triển mạnh khai thác thủy sản, đặc biệt là khai thác thủy sản xa bờ góp phần thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp. Để đánh giá vai trò của các khu vực, ngành kinh tế người ta thường sử dụng hai tiêu chí chủ yếu là tốc độ tăng trưởng và tỷ trọng của từng ngành, từng khu vực trong toàn bộ nền kinh tế. Khi sử dụng hai tiêu chí trên cần chú ý hai trường hợp: tốc độ tăng trưởng cao nhưng tỷ trọng nhỏ hoặc nếu tỷ trọng lớn nhưng tốc độ tăng trưởng thấp thì mức độ đóng góp vào tốc độ tăng trưởng chung là thấp. Ngày nay người ta đánh giá mới bằng việc xác định tỷ trọng đóng góp của từng ngành, từng khu vực vào tốc độ tăng trưởng chung.
Chỉ tiêu này thể hiện rõ hơn và lượng hóa được vai trò của từng ngành, từng khu vực trong Luan van 13 nền kinh tế. Trong những năm qua tỷ trọng đóng góp của ngành nông lâm thủy sản vào tốc độ tăng trưởng chung có xu hướng tăng dần la do sự chuyển biến tăng trưởng của ngành khai thác thủy sản Việc ngành thuỷ sản chú trọng đầu tư ngày một nhiều hơn và đúng hướng đã hình thành tiền đề quan trọng cho sự phát triển kinh tế thuỷ sản, tạo nên sự chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực, mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh, các lĩnh vực khai thác và nuôi trồng thuỷ sản được định hướng phát triển phục vụ xuất khẩu đã tạo ra nhiều việc làm và tăng thu nhập cho lao động nghề cá cả nước, góp phần gia tăng giá trị xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế của đất nước.Sản lượng thuỷ sản năm 2013 ước tính đạt 5918,6 nghìn tấn, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước trong đó sản lượng thủy sản khai thác vẫn tăng, ước tính đạt 2709 nghìn tấn, tăng 3,3% so với năm trước, trong đó khai thác biển đạt 2519 nghìn tấn, tăng 3,5%. Tạo ra thị trường cho các sản phẩm công nghiệp; góp phần tăng thu ngoại tệ chô đất nước, góp phần xóa đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm cho ngư dân, nông dân vùng nông thôn Phát triển khai thác thủy sản đã tạo thị trường cho các ngành công nghiệp đóng tàu, dệt lưới, động cơ nổ, kỹ nghệ lạnh, các ngành công nghiệp phụ trợ đi kèm v. Với những tiềm năng và lợi thế có sẵn trong việc phát triển khai thác thủy sản tạo ra nguồn hàng xuất khẩu có giá trị góp phần quan trọng trong việc thu ngoại tệ cho đất nước.
Trong nhiều năm liền, ngành thủy sản luôn giữ vị trí thứ 3 hoặc thứ 4 trong bảng danh sách các ngành có giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn nhất đất nước. Hoạt động khai thác thủy sản tạo công ăn việc làm cho nhiều cộng đồng nhân dân, đặc biệt ở những vùng nông thôn và ven biển và có vai trò tích cực Luan van 14 trong hoạt động xóa đói giảm nghèo, thông qua việc lập và phát triển các mô hình hợp tác xã khai thác thủy sản xa bờ, tạo điều kiện phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ như chế biến thủy sản xuất khẩu, đóng gói, làm thức ăn cho người và trong chăn nuôi. Cung cấp nguyên liệu cho các công nghiệp chế biến sản phẩm nông nghiệp Phát triển khai thác thủy sản là con đường góp phần làm giàu cho kinh tế đất nước. Khai thác thủy sản còn cung cấp một phần thức ăn cho chăn nuôi, đặc biệt cho chế biến thức ăn chăn nuôi công nghiệp.
Bột cá và các phế phẩm, phụ phẩm thủy sản chế biến là nguốn thức ăn giàu đạm được sử dụng làm thức ăn hoặc để chế biến thức ăn phục vụ chăn nuôi gia súc, gia cầm.