CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KHAI THÁC HẢI SẢN 1. CÁC KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA KHAI THÁC HẢI SẢN 1. Khái niệm về phát triển Phát triển là một quá trình vận động đi lên, phải là một quá trình lâu dài, luôn thay đổi và sự thay đổi đó theo hướng ngày càng hoàn thiện. Khái niệm phát triển cũng được lý giải như một quá trình thay đổi theo hướng hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế[4].
* Những vấn đề cơ bản của Phát triển kinh tế - Điều kiện đầu tiên là phải có sự tăng trưởng kinh tế (gia tăng về quy mô sản lượng của nền kinh tế, nó phải diễn ra trong một thời gian tương đối dài và ổn định). - Sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế: thể hiện ở tỷ trọng các vùng, miền, ngành, thành phần kinh tế. Trong đó tỷ trọng của vùng nông thôn giảm tuơng đối so với tỷ trọng vùng thành thị, tỷ trọng các ngành dịch vụ, công nghiệp tăng, đặc biệt là ngành dịch vụ. - Cuộc sống của đại bộ phận dân số trong xã hội sẽ trở lên tươi đẹp hơn: giáo dục, y tế, tinh thần của người dân được chăm lo nhiều hơn, môi trường được đảm bảo.
- Trình độ tư duy, quan điểm sẽ thay đổi. Để có thể thay đổi trình độ tư duy, quan điểm đòi hỏi phải mở cửa nền kinh tế. - Phát triển kinh tế là một quá trình tiến hóa theo thời gian và do những nhân tố nội tại (bên trong) quyết định đến toàn bộ quá trình phát triển đó. Khái niệm về phát triển khai thác hải sản - Khai thác thuỷ sản là việc khai thác nguồn lợi thuỷ sản trên biển, Luan van 14 sông, hồ, đầm, phá và các vùng nước tự nhiên khác.
Khai thác thủy sản chủ yếu công nghiệp KTHS trên biển.[14] - Khai thác hải sản: là thuật ngữ mô tả những hoạt động đánh bắt, thu nhặt các nguồn lợi hải sản có ở biển. - Khai thác hải sản là hoạt động của con người sử dụng các công cụ và nhiều phương pháp khác nhau để tác động tới đối tượng các tài nguyên sinh vật trong vùng nước tự nhiên khác nhau và môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu của con người và xã hội về các sản phẩm hàng hóa hải sản [8]. Quá trình khai thác hải sản cũng chính là quá trình tương tác giữa con người và tự nhiên vì mục đích của con người hay đây là hoạt động chủ quan của con người. Trong điều kiện các tài nguyên sinh vật trong vùng nước tự nhiên tồn tại vận động theo các quy luật của tự nhiên.
Do vậy, nếu quá trình khai thác này phù hợp với tự nhiên thì sẽ tác động tốt và ngược lại. Theo Cục trưởng cục Khai thác hải sản- Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn: “Khai thác hải sản là ngành khai thác tài nguyên tái tạo, góp phần đảm bảo an ninh - lương thực, cung cấp sản phẩm phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu” [32]. Có thể thấy, lĩnh vực KTHS cũng bị chi phối mạnh bởi nguyên tắc cơ bản của kinh tế là nguyên tắc khan hiếm – các tài nguyên hải sản mà con người cần là rất hạn chế và sẽ khan hiếm. Bởi thế, con đường đúng đắn nhất để phát triển KTHS là hướng bền vững: nguồn lợi hải sản và tài nguyên phải được sử dụng lâu dài, vừa thỏa mãn được nhu cầu kinh tế trước mắt trong sức chống chịu của hệ sinh thái vừa duy trì được nguồn tài nguyên cho các thế hệ mai sau.
Như vậy có thể hiểu phát triển KTHS là: - Phát triển KTHS đạt hiệu quả kinh tế cao, đảm bảo lợi ích lâu dài và một nghề cá có trách nhiệm mà nước ta đã cam kết với cộng đồng quốc tế. Luan van 15 Tránh được sự suy thoái và đình trệ trong tương lai, tránh để lại gánh nặng nợ nần cho thế hệ mai sau. - Duy trì chất lượng môi trường và bảo toàn chức năng các hệ thống tài nguyên hải sản, các hệ sinh thái thủy vực, các hệ sinh thái biển và vùng ven bờ. - Đảm bảo quyền lợi của cộng đồng dân cư hưởng dụng nguồn lợi hải sản, cân bằng hưởng dụng nguồn lợi hải sản giữa các thế hệ, góp phần xóa đói giảm nghèo nông ngư dân.
KTHS nước ta được xác định là một ngành kinh tế mũi nhọn, giải quyết việc làm cho hàng triệu người lao động, đóng góp quan trọng cho nền kinh tế quốc dân cũng như kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Chính vì vị thế quan trọng của ngành, Đảng và Chính phủ đã đề ra những chiến lược phát triển KTHS Việt Nam và phải phấn đấu trở thành một ngành sản xuất hàng hoá lớn, sản phẩm hải sản phải có sức cạnh tranh cao trên các thị trường để tiếp tục phát triển nhanh và bền vững. Trong khi xuất phát điểm vốn là một nghề cá quy mô nhỏ với phương thức khai thác truyền thống, tiếp cận ngư trường tự do với thực trạng sản xuất của ngành còn manh mún, bị cắt khúc giữa các khâu, quản lí dựa vào kinh tế hộ gia đình. Mâu thuẫn giữa các yếu tố phát triển như vậy đã tạo ra thách thức rất lớn đối với mục tiêu phát triển và sẽ làm nảy sinh không ít khó khăn trong quá trình phát triển ngành.
Đặc điểm của khai thác hải sản KTTS phụ thuộc nhiều vào những thay đổi của tự nhiên, của môi trường sinh thái biển, phải thường xuyên đối mặt với rủi ro hơn các lĩnh vực kinh tế khác. Hơn nữa, sản phẩm sau khi khai thác thuộc loại mau ươn, chóng thối, sản lượng hao hụt nhanh dễ dàng dẫn đến thất thu, thua lỗ trong kinh doanh. Yêu cầu về các dịch vụ hầu cần, đặc biệt là khâu sơ chế bảo quản lạnh và vận chuyển là chặt chẽ và không thể thiếu [17] Luan van 16 KTHS ở nước ta trải qua hàng thế kỷ hoạt động. Phương tiện KTHS trên biển hầu hết là tàu vỏ gỗ, số lượng tàu thuyền có công suất nhỏ vẫn đang còn chiếm đa số, các loại tàu vỏ thép, vật liệu mới composite chiếm tỷ lệ không đáng kể dẫn đến khả năng vươn khơi còn hạn chế, trong thời gian qua dù được các cấp, các ngành quan tâm khuyến khích ngư dân đầu tư, cải hoán, đóng mới tàu thuyền nhưng việc nâng cấp tàu thuyền phát triển chậm do tình hình kinh tế của ngư dân còn khó khăn, vốn đối ứng chưa đảm bảo vì vậy việc đầu tư của ngư dân trong những năm qua chưa nhiều.
Đối tượng của KTHS là các sinh vật sống trong môi trường nước biển - chủ yếu là tầng nước mặt. Mà những sinh vật này thì lại có những đặc điểm sau: - Nguồn lợi hải sản Việt Nam đa dạng, cá biển đa loài, kích cở cá thể và quần đoàn khác nhau, cho nên đặc tính nguồn lợi này gây khó khăn cho KTHS khi phải lựa chọn các thông số kỹ thuật cho ngư cụ. Khó khăn để xác định chính xác trữ lượng hải sản ở khu vực đánh bắt. Đặc biệt, ở các vùng mặt nước rộng lớn, các sinh vật có thể di chuyển tự do từ vùng này đến vùng khác không phụ thuộc vào địa giới hành chính.
Hướng di chuyển của các luồng hải sản chịu tác động của nhiều nhân tố như thời tiết, khí hậu, dòng chảy của nước biển và đặc biệt là nguồn thức ăn tự nhiên. Do đó, để bảo vệ, tái tạo và khai thác hải sản có hiệu quả, một mặt cần phải phân chia ranh giới giữa các địa phương, quốc gia, nhưng mặt khác cũng cần sự hợp tác chặt chẽ giữa các địa phương, quốc gia trong quá trình đánh bắt hải sản. Đối với từng địa phương hay từng quốc gia, nếu không ngăn chặn có hiệu quả các phương pháp khai thác lạc hậu làm hủy diệt các sinh vật trong nước biển thì nguồn thức ăn tự nhiên sẽ bị cạn kiệt, do đó có thể làm thay đổi nơi cư trú hoặc hướng di chuyển của các loài hải sản, dẫn đến nghèo nàn hoặc cạn kiệt nguồn lợi hải sản [17]. Luan van 17 - Các loài hải sản sinh trưởng và phát triển chịu nhiều tác động của điều kiện thời tiết, khí hậu, dòng chảy… nên hoạt động đánh bắt hải sản cũng bị ảnh hưởng của tính mùa vụ về cả không gian lẫn thời gian một cách rất phức tạp: sinh sản theo mùa, di cư theo mùa, di cư theo dòng nước,… Điều này đã tạo nên cơ sở khách quan của việc hình thành và phát triển nhiều ngành nghề khai thác khác nhau của ngư dân [17].
- Hải vực là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế của hoạt động KTHS. Thêm vào đó, các điều kiện khí hậu thủy văn của vùng biển rất khắc nghiệt, nhiều giông bão, làm cho nghề KTHS thêm nhiều rủi ro và tăng thêm chi phí sản xuất. KTHS, mà đặc biệt là khai thác xa bờ phụ thuộc rất nhiều vào những tiến bộ của khoa học, kỹ thuật, đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu lớn. Vai trò của khai thác hải sản KTHS có vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung và của các địa phương ven biển nói riêng.
KTHS được cho là lĩnh vực có vai trò quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia. Cung cấp thực phẩm, tạo nguồn dinh dưỡng cho mọi người dân, đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm của Việt Nam 50% sản lượng KTHS ở vùng biển Bắc Bộ, Trung Bộ và 40% sản lượng đánh bắt ở vùng biển Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ được dùng làm thực phẩm cho nhu cầu của người dân Việt Nam, góp phần chuyển đổi cơ cấu thực phẩm trong bữa ăn của người dân Việt Nam, cung cấp nguồn dinh dưỡng dồi dào, góp phần, đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm của quốc gia. Trong thời gian tới, các mặt hàng hải sản sẽ ngày càng có vị trí cao trong tiêu thụ thực phẩm của mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam. Giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo Không những thế KTHS còn là một ngành kinh tế tạo cơ hội việc làm cho nhiều cộng đồng nhân dân, đặc biệt ở những vùng ven biển, có thu nhập ổn định, một bộ phận dân cư các vùng ven biển đã giàu lên nhanh chóng, rất nhiều gia đình thoát khỏi cảnh đói nghèo nhờ KTHS.
Nguồn xuất khẩu quan trọng Trong nhiều năm liền, KTHS là nguồn nguyên liệu đầu vào trong ngành chế biến thủy sản xuất khẩu của thành phố Đà Nẵng là ngành luôn giữ vị trí là một trong những lĩnh vực có giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn nhất của địa phương. Hằng năm thu về một lượng ngoại tế lớn, có đóng góp không nhỏ vào GTSX của thành phố.