Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống giáo dục mầm non, văn học nghệ thuật là phương tiện quan trọng tác động toàn diện đến sự phát triển nhân cách trẻ trên các phương diện đạo đức, trí tuệ, tình cảm và thẩm mỹ. Do đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi mẫu giáo chưa biết đọc, biết viết, con đường tiếp nhận tác phẩm văn học duy nhất của trẻ là thông qua hoạt động đọc và kể diễn cảm của giáo viên cũng như sự tái hiện tác phẩm của chính bản thân trẻ. Tuy nhiên, trong thực tế giảng dạy, việc rèn luyện kỹ năng đọc, kể diễn cảm cho trẻ chịu sự chi phối của nhiều yếu tố như năng lực tiếp nhận của học sinh, kỹ năng tổ chức và nghệ thuật diễn đạt của giáo viên, cùng điều kiện cơ sở vật chất. Tại nhiều cơ sở giáo dục mầm non, hoạt động này còn bộc lộ nhiều điểm bất cập, chủ yếu dừng lại ở mức dạy trẻ thuộc lòng văn bản thay vì phát triển năng lực cảm thụ và kỹ năng biểu cảm.

Xuất phát từ thực tế trên, đề tài "Biện pháp phát triển khả năng đọc, kể diễn cảm tác phẩm văn học cho trẻ 4 – 5 tuổi ở trường mầm non Điện Tiến - Điện Bàn - Quảng Nam" do tác giả Phan Thị Thảo thực hiện nhằm giải quyết các nhiệm vụ và mục tiêu cụ thể:

  1. Mục tiêu nghiên cứu: Tìm hiểu, đánh giá thực trạng kỹ năng đọc, kể diễn cảm tác phẩm văn học của trẻ mẫu giáo 4–5 tuổi tại Trường Mầm non Điện Tiến (thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam); trên cơ sở đó đề xuất hệ thống biện pháp sư phạm nhằm nâng cao năng lực đọc, kể diễn cảm cho trẻ.
  2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
    • Xây dựng cơ sở lý luận về hoạt động đọc, kể diễn cảm và sự tiếp nhận tác phẩm văn học của trẻ 4–5 tuổi.
    • Khảo sát, phân tích thực trạng nhận thức của giáo viên, năng lực đọc, kể diễn cảm của trẻ và cách thức tổ chức hoạt động tại địa bàn nghiên cứu.
    • Xây dựng và thực nghiệm hệ thống biện pháp sư phạm nhằm phát triển khả năng đọc, kể diễn cảm cho trẻ mẫu giáo nhỡ.
  3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
    • Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp phát triển khả năng đọc, kể diễn cảm tác phẩm văn học của trẻ 4–5 tuổi.
    • Phạm vi nghiên cứu: Khả năng đọc, kể diễn cảm tác phẩm văn học ở trẻ mẫu giáo 4–5 tuổi (lớp mẫu giáo nhỡ) tại Trường Mầm non Điện Tiến, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Khóa luận được hoàn thành vào tháng 5 năm 2016.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết đa ngành kết hợp các văn bản quy phạm pháp luật và phương pháp nghiên cứu sư phạm thực chứng:

  • Khung lý thuyết và khái niệm:
    • Định nghĩa đọc và kể: Vận dụng quan niệm của Lê Phương Nga về đọc (hoạt động ngôn ngữ chuyển chữ viết sang lời nói âm thanh để giải mã nghĩa) và kể chuyện (nói rõ đầu đuôi chuỗi sự việc có ý nghĩa gắn với nhân vật).
    • Bản chất đọc, kể diễn cảm: Tiếp thu các lý luận chuyên ngành của Hà Nguyễn Kim Giang, Lã Thị Bắc Lý, Lê Thị Ánh Tuyết, Nguyễn Thị Tuyết Nhung, Phạm Thị Việt, cùng tài liệu kinh điển "Đọc và kể chuyện văn học ở vườn trẻ" (M.K. Septsenko, Lê Đức Mẫn dịch, 1978). Đọc/kể diễn cảm được xác định là hoạt động nghệ thuật biểu diễn ngôn từ, làm chủ các yếu tố ngữ điệu, trọng âm, âm sắc và phương tiện phi ngôn ngữ nhằm tái hiện hình tượng tác phẩm.
    • Bốn trụ cột cơ sở khoa học: Cơ sở sinh lý học cấu âm (hoạt động của phổi, khí quản, thanh hầu, dây thanh, khoang yết hầu, khoang miệng, khoang mũi); cơ sở tâm lý học (quy luật lây lan tình cảm, sự phát triển của tư duy trực quan hình tượng và tưởng tượng có chủ định ở trẻ 4–5 tuổi); cơ sở ngôn ngữ học (chuẩn chính âm tiếng Việt, các yếu tố siêu đoạn tính gồm cao độ, cường độ, trường độ); cơ sở văn học (tính nhạc, tính gợi cảm của từ vựng, các biện pháp tu từ như ẩn dụ, nhân hóa).
    • Cơ sở pháp lý: Căn cứ Điều 22 Luật Giáo dục Việt Nam về mục tiêu giáo dục mầm non và Quyết định số 55 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định mục tiêu, kế hoạch đào tạo nhà trẻ - mẫu giáo.
  • Phương pháp nghiên cứu thực tế:
    • Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát hóa tài liệu chuyên ngành.
    • Phương pháp quan sát sư phạm: Dự giờ, quan sát trực tiếp các tiết học thơ và kể chuyện tại lớp Nhỡ 1 và Nhỡ 2 của Trường Mầm non Điện Tiến.
    • Phương pháp điều tra bằng anket: Sử dụng phiếu hỏi khảo sát đối với mẫu gồm $n = 12$ giáo viên phụ trách các lớp 4–5 tuổi tại Trường Mầm non Điện Tiến và một số trường lân cận.
    • Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn sâu giáo viên về chuyên môn và trò chuyện trực tiếp với trẻ mầm non.
    • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thiết kế và triển khai 2 nội dung thực nghiệm nhằm kiểm chứng tính khả thi của các biện pháp đề xuất.
  • Nguồn dữ liệu: Số liệu điều tra thực trạng từ 12 phiếu anket, biên bản quan sát tiết dạy tại 2 lớp mẫu giáo nhỡ, hồ sơ thống kê cơ sở vật chất - đội ngũ cán bộ giáo viên ($N = 35$) và số lượng trẻ ($N = 312$) của Trường Mầm non Điện Tiến.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận liên quan đến đề tài

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận về hoạt động đọc, kể diễn cảm cho trẻ mầm non:

  • Làm rõ cấu trúc của khả năng đọc, kể diễn cảm bao gồm 4 kỹ năng thành phần: làm chủ hơi thở, phát âm chuẩn xác, làm chủ giọng điệu văn bản và làm chủ ngữ điệu. Tác giả trích dẫn quan điểm của văn hào A. Tsêkhốp để nhấn mạnh giá trị biểu cảm của ngữ điệu trong việc truyền tải tầng nghĩa văn bản.
  • Phân tích vai trò của đọc, kể diễn cảm đối với sự phát triển nhân cách toàn diện của trẻ 4–5 tuổi trên 4 mặt: giáo dục đạo đức (giúp trẻ nhận thức thiện - ác qua truyện cổ tích như Tấm Cám), phát triển trí tuệ (mở rộng hiểu biết về hiện tượng tự nhiên, thế giới động - thực vật), bồi dưỡng thẩm mỹ (đánh thức thị hiếu cái đẹp) và rèn luyện kỹ năng lao động sư phạm (tập trung chú ý, điều khiển cơ quan cấu âm).
  • Xác định đặc điểm tiếp nhận của trẻ 4–5 tuổi: cơ quan phát âm và thính giác dần hoàn thiện, xuất hiện ngôn ngữ bên trong, tư duy trực quan hình tượng và trí tưởng tượng phong phú phát triển mạnh, xúc cảm chiếm ưu thế chi phối hành vi.
  • Thiết lập hệ thống 5 thủ thuật đọc/kể (sử dụng đúng giọng điệu cơ bản, ngắt giọng đúng lúc, đúng nhịp điệu, điều chỉnh cường độ giọng, ứng dụng phương tiện trực quan) và các tiêu chí đánh giá kỹ năng diễn cảm ở trẻ.

Chương 2: Khảo sát khả năng đọc, kể diễn cảm tác phẩm văn học cho trẻ 4-5 tuổi ở trường Mầm non Điện Tiến - Điện Bàn - Quảng Nam

Chương 2 trình bày kết quả khảo sát thực trạng giáo dục tại địa bàn nghiên cứu:

  • Đặc điểm địa bàn: Trường Mầm non Điện Tiến là trường công lập thuộc thị xã Điện Bàn, có 35 cán bộ giáo viên (2 đại học chính quy, 18 đại học liên thông, 10 cao đẳng, 5 trung cấp). Toàn trường có 9 lớp với 312 trẻ, riêng khối Mẫu giáo nhỡ (4–5 tuổi) có 3 lớp với 111 trẻ.
  • Nhận thức của giáo viên: Kết quả khảo sát 12 giáo viên cho thấy 100% giáo viên khẳng định hoạt động đọc, kể diễn cảm là quan trọng/rất quan trọng và cần thiết/rất cần thiết. Về yếu tố quyết định, 91,7% giáo viên cho rằng khả năng tiếp thu của trẻ là quan trọng nhất, 83,3% nhấn mạnh sự tác động của giáo viên và 58,3% chọn môi trường tổ chức.
Tiêu chí khảo sát nhận thức của giáo viên ($n=12$) Số lượng Tỉ lệ (%)
Tầm quan trọng của việc đọc, kể diễn cảm
- Rất quan trọng 8 67,0%
- Quan trọng 4 33,0%
- Không quan trọng 0 0,0%
Mức độ cần thiết của việc rèn luyện kỹ năng
- Rất cần thiết 5 41,7%
- Cần thiết 7 58,3%
- Không cần thiết 0 0,0%
Ý nghĩa chính của hoạt động đối với trẻ
- Phương tiện giáo dục thẩm mĩ, đạo đức, trí tuệ 8 66,7%
- Giúp trẻ hiểu và cảm nhận sâu sắc về tác phẩm 7 58,0%
- Tạo sự ham thích và phát triển trí tưởng tượng, tình cảm 5 41,7%
  • Thực trạng tổ chức và phương pháp: 100% giáo viên cho biết chỉ tiến hành rèn kỹ năng tốt nhất trong tiết học làm quen tác phẩm văn học (chưa tích hợp vào hoạt động góc hay ngoài trời). 100% giáo viên sử dụng biện pháp làm mẫu cho trẻ bắt chước; 50% tổ chức cho trẻ nhận xét bạn, dùng phương tiện kỹ thuật hoặc tổ chức thi đua. Về tiêu chí đánh giá, 100% chú trọng ngắt nghỉ và nhấn giọng; 91,7% chú trọng biểu cảm giọng; 83,3% chú trọng cử chỉ điệu bộ; 66,7% chú trọng phát âm đúng; 58,3% chú trọng làm chủ hơi thở.
  • Khó khăn thực tế: Giáo viên gặp khó khăn do năng lực của trẻ còn hạn chế (91,6%), chất lượng giọng đọc/kể mẫu của giáo viên chưa cao (83,3%), sĩ số lớp đông (75,0%), đồ dùng trực quan chưa phong phú (66,7%), trẻ thiếu hứng thú và thời lượng tiết dạy ít (cùng 58,3%).
  • Đánh giá năng lực của trẻ:
Thực trạng năng lực đọc, kể diễn cảm của trẻ ($n=12$ GV đánh giá) Số lượng Tỉ lệ (%)
Số lượng trẻ đạt mức độ đọc, kể diễn cảm tốt
- Dưới trung bình 10 83,3%
- Trung bình – Khá 2 16,7%
- Tốt 0 0,0%
Mức độ biểu hiện thực tế của trẻ khi đọc, kể
- Thuộc/nhớ văn bản, phát âm to, rõ ràng 5 41,7%
- Thuộc/nhớ văn bản, ngôn ngữ trôi chảy, giọng truyền cảm 4 33,3%
- Thuộc/nhớ văn bản, phát âm rõ, truyền cảm, biết ngắt nghỉ, cử chỉ nét mặt 3 25,0%
  • Kết quả quan sát dự giờ: Tại lớp Nhỡ 1 và Nhỡ 2, việc dạy học còn thiên về truyền thụ một chiều. Giáo viên chủ yếu cho trẻ lặp lại từng câu theo hình thức đồng thanh đến khi thuộc lòng bài thơ hoặc câu chuyện. Giáo viên chưa chú trọng hướng dẫn kỹ năng điều chỉnh cao độ, tốc độ, thiếu sự linh hoạt trong sử dụng điệu bộ cử chỉ, khiến trẻ bắt chước thụ động và thiếu tính sáng tạo.

Chương 3: Biện pháp và thực nghiệm phát triển khả năng đọc, kể diễn cảm tác phẩm văn học cho trẻ

Chương 3 xây dựng các nguyên tắc và hệ thống giải pháp tác động sư phạm:

  • Hai nguyên tắc chỉ đạo: (1) Đảm bảo tính mục tiêu giáo dục mầm non theo Luật Giáo dục và Quyết định 55; (2) Phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi mẫu giáo 4–5 tuổi.
  • Hệ thống biện pháp dành cho giáo viên:
    1. Nâng cao chất lượng đọc, kể mẫu: Giáo viên phải rèn luyện giọng đọc chuẩn, truyền cảm, thị phạm chính xác các cử chỉ, nét mặt (minh họa qua việc ngẩng đầu, vẫy tay cười với bài thơ "Ông mặt trời" của Ngô Thị Bích Hiền). Tổ chức sinh hoạt chuyên môn, cung cấp bộ công cụ tiêu chí đánh giá trẻ.
    2. Rèn luyện kỹ năng kể chuyện có nghệ thuật: Giáo viên nhập vai nhân vật (giọng hung dữ của sói trong "Chú dê đen"); ngắt giọng tâm lý/logic (tạo sự hồi hộp trước từ "bỗng" trong "Cô bé quàng khăn đỏ"); điều tiết ngữ điệu và cường độ phù hợp với xung đột truyện.
    3. Sử dụng linh hoạt đồ dùng trực quan: Khắc phục việc lạm dụng tranh tĩnh bằng cách tự làm đồ dùng trực quan đa dạng từ vật liệu phế thải, dễ tìm (mút xốp, len, vải vụn, đề-can, bìa lịch cũ) như rối dẹt, rối tay, rối que, rối nước, mặt nạ, tranh truyện động (ví dụ: tạo rãnh trượt di chuyển nhân vật ếch, cáo, rùa trong truyện "Chú rùa thông minh").
    4. Nắm vững tiêu chí và thủ thuật ngữ âm: Xác định giọng điệu cơ bản (hồn nhiên trong bài thơ "Gà mẹ đếm con"), phân hóa ngữ điệu nhân vật (ngữ điệu cao, gay gắt của thỏ, nhím, quạ đối lập với giọng trầm, ôn hòa của gấu trong truyện "Quả táo của ai").
    5. Khai thác yếu tố phi ngôn ngữ: Kết hợp ánh mắt, nụ cười, điệu bộ tay khi đọc thơ (như động tác giơ tay vẫy trong bài thơ "Chim chích bông").
  • Hệ thống biện pháp dành cho trẻ và phối hợp: Kích thích tính sáng tạo, tăng cường thời lượng cho trẻ tự thể hiện qua đóng vai kịch bản; bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học; kết hợp chặt chẽ giữa giáo viên với ban giám hiệu nhà trường và phụ huynh học sinh.
  • Thực nghiệm sư phạm: Khóa luận thiết lập kế hoạch tổ chức 2 đợt thực nghiệm tại Trường Mầm non Điện Tiến nhằm đo lường sự tiến bộ về các tiêu chí phát âm, làm chủ ngữ điệu và biểu cảm hành vi của trẻ.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả khảo sát thực trạng bằng số liệu cụ thể:
    • Làm rõ bức tranh thực tế tại Trường Mầm non Điện Tiến: 100% giáo viên ý thức được tính cấp thiết của hoạt động nhưng có tới 83,3% đánh giá năng lực đọc, kể diễn cảm của trẻ ở mức dưới trung bình (0% đạt mức tốt).
    • Xác định tỷ lệ trẻ mới chỉ dừng lại ở mức thuộc lời, phát âm rõ ràng chiếm đa số (41,7%), trong khi tỷ lệ trẻ kết hợp đầy đủ các kỹ thuật ngắt nghỉ, nhấn giọng và biểu cảm nét mặt chỉ đạt 25,0%.
    • Chỉ ra nguyên nhân chính bắt nguồn từ việc 100% giáo viên chỉ rèn luyện trong tiết văn học chính khóa, 100% dùng phương pháp đọc mẫu thụ động, 83,3% tự nhận chất lượng đọc mẫu chưa cao và 66,7% thiếu đồ dùng trực quan sinh động.
  • Giải pháp và kiến nghị đề xuất:
    • Xây dựng hệ thống giải pháp toàn diện gồm 5 nhóm biện pháp dành riêng cho giáo viên (tập trung vào kỹ thuật ngắt giọng, xử lý ngữ điệu, nhập vai nhân vật, cử chỉ phi ngôn ngữ và tự chế tạo đồ dùng trực quan động).
    • Đề xuất quy trình làm đồ dùng dạy học sáng tạo từ phế liệu (bìa lịch cũ, xốp, vải vụn) để tạo chuyển động nhân vật, nâng cao hứng thú thị giác cho trẻ.
    • Kiến nghị nhà trường và ngành giáo dục tăng cường tổ chức hội thảo chuyên môn, bồi dưỡng kỹ năng đọc/kể diễn cảm cho giáo viên và đầu tư thiết bị hỗ trợ.
  • Đóng góp của đề tài:
    • Về mặt lý luận: Hệ thống hóa cơ sở khoa học đa ngành (sinh lý cấu âm, tâm lý lứa tuổi, ngôn ngữ học siêu đoạn tính và mỹ cảm văn học) áp dụng cụ thể cho trẻ 4–5 tuổi.
    • Về mặt thực tiễn: Cung cấp các phân tích mẫu chi tiết trên tác phẩm văn học mầm non cụ thể (Gà mẹ đếm con, Quả táo của ai, Chú rùa thông minh, Ông mặt trời), làm tài liệu tham khảo trực tiếp cho giáo viên mầm non đứng lớp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Quy mô khảo sát thực trạng còn hẹp, giới hạn trong phạm vi $n = 12$ giáo viên tại Trường Mầm non Điện Tiến (thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam) và một số trường lân cận, chưa bao quát các vùng miền khác nhau.
    • Khóa luận mới chỉ tập trung nghiên cứu đối tượng trẻ mẫu giáo nhỡ (4–5 tuổi), chưa so sánh đối chiếu với các nhóm tuổi khác (3–4 tuổi hoặc 5–6 tuổi).
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi khảo sát và thực nghiệm trên các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau (khu vực thành thị, miền núi).
    • Nghiên cứu phát triển mô hình rèn luyện khả năng đọc, kể diễn cảm liên thông giữa các độ tuổi mẫu giáo bé, mẫu giáo nhỡ và mẫu giáo lớn.
    • Ứng dụng công nghệ thông tin và học liệu đa phương tiện trong việc xây dựng video bài giảng mẫu và hỗ trợ trẻ tự thu âm, đánh giá giọng đọc.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh viên chuyên ngành Giáo dục Mầm non tham khảo làm tài liệu học tập phương pháp cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học và phương pháp đọc diễn cảm.
    • Giáo viên mầm non trực tiếp giảng dạy lứa tuổi mẫu giáo 4–5 tuổi tham khảo kỹ thuật phân tích ngữ điệu tác phẩm và phương pháp chế tạo giáo cụ trực quan sáng tạo.
    • Cán bộ quản lý chuyên môn mầm non tại các trường, phòng giáo dục sử dụng làm tài liệu tập huấn chuyên đề.
  • Phần nội dung có giá trị ứng dụng cao:
    • Phân tích kỹ thuật thể hiện ngữ điệu, ngắt giọng theo từng nhân vật trong các tác phẩm văn học mầm non cụ thể tại Chương 3.
    • Hướng dẫn kỹ thuật tự làm tranh truyện động, rối dẹt, rối que từ vật liệu tái chế phục vụ hoạt động kể chuyện.

Câu hỏi thường gặp

1. Khảo sát thực trạng trong khóa luận được thực hiện trên mẫu nghiên cứu nào?
Khảo sát được thực hiện trên mẫu gồm 12 giáo viên trực tiếp đứng lớp 4–5 tuổi tại Trường Mầm non Điện Tiến (thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam) và một số trường lân cận, cùng việc quan sát thực tế tại 2 lớp mẫu giáo nhỡ (Nhỡ 1 và Nhỡ 2).

2. Đánh giá của giáo viên về năng lực đọc, kể diễn cảm của trẻ 4–5 tuổi tại trường đạt kết quả như thế nào?
Theo kết quả khảo sát tại Bảng 6, có tới 83,3% giáo viên (10/12 người) đánh giá khả năng đọc, kể diễn cảm của trẻ trong lớp ở mức dưới trung bình; 16,7% (2/12 người) đánh giá ở mức trung bình – khá và 0% giáo viên đánh giá ở mức tốt.

3. Nguyên nhân chủ yếu nào dẫn đến hạn chế trong kỹ năng đọc, kể diễn cảm của trẻ?
Nguyên nhân gồm: nhận thức và chất lượng đọc/kể mẫu của giáo viên chưa cao (83,3% GV thừa nhận); phương pháp dạy chủ yếu là cho trẻ đọc thuộc vẹt đồng thanh; thời lượng dành cho hoạt động ít (58,3%); đồ dùng trực quan thiếu phong phú (66,7%) và sĩ số lớp đông (75,0%).

4. Tác giả đã minh họa kỹ thuật phân hóa ngữ điệu qua những tác phẩm cụ thể nào?
Tác giả phân tích cụ thể: bài thơ "Ông mặt trời" (ngữ điệu nhí nhảnh, kết hợp cử chỉ vẫy tay cười); truyện "Chú dê đen" (nhập vai giọng hung dữ của sói); truyện "Cô bé quàng khăn đỏ" (kỹ thuật ngắt giọng tạo hồi hộp trước từ "bỗng"); bài thơ "Gà mẹ đếm con" (giọng trong trẻo, hồn nhiên); và truyện "Quả táo của ai" (phân biệt ngữ điệu gay gắt tranh chấp của thỏ, nhím, quạ với ngữ điệu trầm, ôn hòa của gấu).

5. Tác giả đề xuất tự chế tạo những loại đồ dùng trực quan nào để tăng tính hấp dẫn cho tiết kể chuyện?
Tác giả đề xuất tận dụng các vật liệu phế thải dễ tìm (mút, xốp, len, vải vụn, đề-can, bìa lịch cũ) để làm rối dẹt, rối tay, rối que, rối nước, các con giống, mũ diễn kịch và đặc biệt là tranh truyện động có rãnh trượt cho nhân vật di chuyển (như mô hình kể chuyện "Chú rùa thông minh").

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phan Thị Thảo đã hệ thống hóa cơ sở lý luận đa diện và phản ánh sát thực thực trạng tổ chức rèn luyện kỹ năng đọc, kể diễn cảm cho trẻ 4–5 tuổi tại Trường Mầm non Điện Tiến. Công trình chỉ rõ những rào cản về phương pháp truyền thụ một chiều, kỹ năng làm mẫu của giáo viên và sự nghèo nàn của giáo cụ trực quan khiến đa phần trẻ chưa đạt chuẩn biểu cảm. Hệ thống 5 nhóm biện pháp sư phạm cùng các chỉ dẫn ngữ âm thực hành cụ thể trên từng tác phẩm là đóng góp thiết thực, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học tại bậc học mầm non.