CHƯƠNG 1: NHỮNG VAN DE CƠ BAN VE CHO VAY TIEU DUNG CUA CONG TY TAI CHINH 1. Khát quát chung về cho vay tiêu dùng của công ty tài chính 1. Khái quát chung về công ty tài chính LAA. Khái niệm tổ chức tài chính phi ngân hang Trên thế giới hiện tại xuất hiện một số định nghĩa, khái nệm về tô chức tín dụng phi ngân hàng với cách diễn đạt khác nhau nhưng nội dung thì có nhiều điểm tương đồng.
James (2019) định nghĩa các tổ chức tín dụng phi ngân hang là các tô chức tài chính cung cấp các dịch vụ ngân hàng khác nhau nhưng không có giấy phép ngân hàng. Nói chung, các tổ chức này không được phép nhận tiền gửi theo yêu cầu truyền thong, các quỹ có săn, chang hạn như các khoản tiền trong việc kiểm tra hoặc tiết kiệm tài khoản từ công chúng. Hạn chế này giữ cho họ nằm ngoài phạm vi giám sát thông thường từ các cơ quan quản lý tài chính của liên bang và tiểu bang. Các tổ chức này có thé cung cấp các dịch vụ ngân hàng như cho vay và các cơ sở tín dụng, trao đổi tiền tệ, kế hoạch nghỉ hưu, thị trường tiền tệ, bảo lãnh phát hành và các hoạt động sáp nhập.
Tại Uc, Waddle (2017) đưa ra khái niệm tổ chức tín dung phi ngân hàng là tổ chức cung cấp các khoản vay và sản phẩm tài chính nhưng không có giấy phép ngân hàng đầy đủ. Những loại tổ chức này thuộc sở hữu tư nhân mang lại cho họ nhiều đòn bay và linh hoạt hơn với mức giá và phí họ có thé cung cấp cho khách hàng. Điều này cho phép họ cung cấp các khoản vay chỉ phí thấp và tạo ra sự cạnh tranh trong thế giới ngân hàng, buộc các ngân hàng phải hạ lãi suất để cạnh tranh. Khách hàng thường tiếp cận với các tô chức này có nhu cầu là các khoản vay doanh nghiệp nhỏ, cá nhân hoặc doanh nghiệp.
Tại Việt Nam, tổ chức tín dụng phi ngân hàng được định nghĩa là loại hình tổ chức tín dụng được phép thực hiện một hoặc một sé hoạt động ngân hang theo quy định của Luật số 47/2010/QH12 - Luật các tổ chức tín dung ban hành vào năm 2010. Các tô chức này không được phép thực hiện một số hoạt động như nhận tiền gửi của cá nhân và cung cấp các dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng. Tổ chức tín dụng phi ngân hàng bao gồm công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác. Khái quát chung về công ty tài chính s* Khái niệm Theo NHNN (2008), Công ty Tài chính là loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng.
Tổ chức này có chức năng là sử dụng vốn tự có, vốn huy động va các nguồn vốn khác dé cho vay, dau tu; cung ứng các dich vụ tu vấn về tài chính, tiền tệ và thực hiện một số dịch vụ khác theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, công ty tài chính lại không được phép thực hiện các dịch vụ thanh toán, không được phép nhận tiền gửi dưới 1 năm. s* Đặc điểm của công ty tài chính Mức vẫn pháp định Với các công ty tài chính thành lập trong thời gian từ khi Nghị định 141/2006/NĐ-CP có hiệu lực đến ngày 31/12/2008 thì sẽ có mức vốn pháp định là 300 tỷ động. Với các công ty tài chính thành lập sau ngày 31/12/2018 thì mức vốn pháp định bắt buộc sẽ là 500 tỷ đồng Loại hình tổ chức hoạt động Hiện nay, theo các nghị định hướng dẫn kèm một số dự thảo bô sung, sửa đổi của Chính phủ, công ty tài chính được chia thành ba loại hình sau là: e Công ty tài chính TNHH một thành viên; e Công ty tài chính TNHH hai thành viên trở lên; © Công ty tài chính cô phan; Thời gian hoạt động Thời gian hoạt động của một công ty tài chính là không quá 50 năm.
Nếu gia hạn thêm thời gian hoạt động thì phải được phía Công ty Nhà nước Việt Nam chấp thuận nhưng mỗi lần gia hạn thêm đó cũng không quá 50 năm. Hoạt động cho vay tiêu dùng tai các công ty tài chính 1. Khái quát về hoạt động cho vay s* Khái niệm Thông tư số NHNN (2016) đưa ra khái niệm cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó các tô chức tín dụng cung cấp cho khách hàng một khoản tiền với mục đích và thời gian đã được xác định và thoả thuận trước theo nguyên tắc hoàn trả gốc lẫn lãi. Khách hang dé được cấp tín dụng sẽ phải đáp ứng day đủ yêu cầu đề ra của các tổ chức tín dụng khi thâm định hồ sơ.
“ Đặc điểm của hoạt động cho vay - _ Về lãi suất cho vay: Khoản 2, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam đã quy định tô chức tín dụng và khách hàng có quyền thoả thuận về lãi suất cấp tin dung trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật. Do đó, trong hầu hết mọi trường hợp, lãi suất trong hợp đồng tín dụng sé do khách hàng và tô chức tin dụng thoả thuận. Mức lãi suất sẽ phụ thuộc vào kết quả của việc thẩm định đánh giá thông tin khách hàng của tô chức tín dụng kèm với tình hình thị trường ở từng thời điểm. Ngoài ra, với từng kỳ hạn vay khác nhau thì mức lãi suất cũng sẽ khac nhau, cụ thê là với kỳ hạn vay dài hơn thì mức lãi suất sẽ cao hơn và ngược lại.
- _ Về các bên thêm gia: Bên cho vay: Là một tổ chức, định chế tài chính hay cá nhân nguồn tiền dé cung cấp các khoản vay cho bên vay trên cơ sở hợp đồng tín dụng đã có các thoả thuận về số tiền, lãi suất, kỳ hạn, hình thức,. Bên vay: Là một tô chức hoặc cá nhân đang có nhu cầu vay vốn với mục đích sử dụng vốn được xác định trước như đầu tư, tiêu dùng. Đề được đồng ý cấp vốn, bên vay cần phải đáp ứng được các yêu cầu, điều kiện của bên cho vay về năng lực tài chính, có lịch sử tín dụng tốt,. s* Vai tro cua hoạt động cho vay Cho vay là hoat động chính, mang lại lợi nhuận chủ yếu cho các TCTD.
Việc đa dạng hóa các sản phẩm cho vay, đồng thời nâng cao các dịch vụ đi kèm là công việc hết sức cần thiết đối, góp phần thiết thực vào việc phát triển lớn mạnh của loại tổ chức này. Hoạt động cho vay của các TCTD là rất quan trong vì nó làm cho các nguồn vốn được lưu thông nhanh chóng, đây nhanh tốc độ tiêu thụ hàng hoá, đây mạnh tiêu dung, tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho xã hội và thúc đây nên kinh tế phát triển mạnh mẽ. Cụ thê hoạt động cho vay có các vai trò sau: - Mang lại lợi nhuận lớn và thúc đây các hoạt động khác của các TCTD: Hoạt động cho vay thường chiếm tỷ trọng cao nhất trong doanh thu của các TCTD. Nhờ có hoạt đông cho vay mà các doanh nghiệp hay cá nhân có thể tiếp cận được với các nguôn vôn đê sử dụng vào nhiêu mục đích khác nhau như đâu tư vào sản xuất kinh doanh, tiêu dùng,.
Từ đó đây mạnh sản xuất, mua sắm, làm cho các doanh nghiệp sản sinh ra nhiều lợi nhuận hơn, hoạt động kinh doanh hiệu quả và lại trở thành nơi đề các TCTD tiến hành thực hiện hoạt động huy động vốn dễ dàng; khiến nền kinh tế trở nên càng nhộn nhịp. - _ Góp phan tác động vào cung - cầu về hàng hoá dịch vụ: Doanh nghiệp muốn sản xuất kinh doanh, hoặc mở rộng sản xuất kinh doanh mà thiếu vốn thì sẽ có thé tiếp cận các nguồn vốn từ các như công ty hoặc các công ty tài chín. Nhung có đủ vốn dé sản xuát kinh doanh và tạo ra được sản pham van là chưa đủ để doanh nghiệp có thể tồn tại,việc quan trọng nhất là phải bán được hàng hoá cho người tiêu dùng. Ngoài các yếu tổ thuộc phía doanh nghiệp, cần phải đảm bảo rang người dân tiêu dùng trên thị trường phải có đủ khả năng tài chính dé thực hiện các như cầu mua sắm của bản thân, từ đó doanh nghiệp mới có thé tiêu thụ được hàng hoá va hoạt động hiệu quả.
Về phía người tiêu dùng, trong nhiễu trường hợp, họ không thé có đủ số tiền để mua hàng hoá mình muốn. Họ chỉ có đủ khả năng mua sau một thời gian dài tích luỹ. Đó là nguyên nhân dẫn đến chu kì tuần hoàn và luân chuyền vốn của doanh nghiệp bị ngưng trệ. Doanh nghiệp sẽ không thu hồi đủ tiền dé thực hiện vòng quay sản xuất.
TCTD cho doanh nghiệp vay sẽ thúc day sản xuất kinh doanh, thì sẽ có nhiều hàng hoá. TCTD cho người tiêu dùng vay sẽ thoả mãn nhu cầu hàng hoá. Như vậy hoạt động cho vay của TCTD đã góp phần điều hoà cung cầu sản phâm hàng hoá dịch vụ cho nền kinh tế. - Vai trò trong việc điều phối các nguồn tiền trong xã hội Vốn dùng dé sản xuất kinh doanh của các chủ thé trong nền kinh tế vận động liên tục và có các biêu hiện khác nhau qua mỗi giai đoạn của quá trình sản xuất, được gọi là vòng luân chuyền vốn trong một chu kỳ kinh doanh tuần, điểm đầu và điểm cuối của một chu kỳ tuần hoàn này được thể hiện dưới dạng tiền tệ.
Nguồn vốn của doanh nghiệp sẽ phải trải qua 3 giai đoạn trong chu ký là: dự trữ- sản xuất- lưu thông. Từ đó xảy ra hiện tượng thừa, thiếu vốn tạm thời (tại một thời điểm nhất định có những doanh nghiệp xuất hiện tình trạng dư thừa vốn hoặc thiếu hụt nguồn vốn). Đây là hiện tượng mang tính chất tạm thời nhưng xảy ra thường xuyên và phổ biến trong bat kì nên kinh tê nào, làm nảy sinh nhu câu ngày càng bức thiệt phải giải quyét được van dé điều hoà vốn. TCTD như ngân hàng hoặc công ty tài chính,.với vai trò là trung gian tài chính đứng ra tập trung phân phối lại tiền tệ, điều hoà cung và cầu vốn cho các doanh nghiệp, đã góp phần quan trọng trong việc điều tiết lại nguồn vốn, giúp giải quyết gián đoạn một các hiệu quả cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Vai trò trong việc thúc đây mở rộng sản xuất kinh doanh, ứng dụng áp dụng công nghệ mới cho các doanh nghiệp: Trình độ trang bị kĩ thuật còn thấp kém, công nghệ thấp kém, chắp vá, thiếu đồng bộ là một trong những yếu tố làm giảm ưu thế của các doanh nghiệp, làm cho các doanh nghiệp đó kém phát triển.