Tổng quan về luận án
Công trình nghiên cứu tiến sĩ kinh tế của tác giả Phạm Thái Hà với đề tài "Phát triển hình ảnh điểm đến du lịch thành phố Đà Nẵng đối với khách du lịch quốc tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế" (chuyên ngành Kinh tế Phát triển, mã số 9.05, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam – Học viện Khoa học Xã hội, 2024, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Hoàng Hồng Hiệp và PGS. Nguyễn Chiến Thắng) đặt nền móng học thuật quan trọng trong việc định vị và nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến của một đô thị trung tâm vùng trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Bối cảnh khoa học của nghiên cứu gắn liền với yêu cầu chuyển dịch mô hình tăng trưởng kinh tế, đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn theo tinh thần Nghị quyết số 43-NQ/TW ngày 24/01/2019 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Mặc dù Đà Nẵng liên tục đạt được các danh hiệu quốc tế uy tín như "Top 10 điểm đến hấp dẫn hàng đầu Châu Á" (Smart Travel Asia), "Top 10 điểm đến mới nổi sáng giá nhất thế giới năm 2015" (Tripadvisor), xếp thứ 15/52 điểm đến hấp dẫn nhất của The New York Times (2019) và tổ chức thành công Tuần lễ Cấp cao APEC 2017, thực tiễn phát triển du lịch địa phương sau đại dịch COVID-19 đối mặt với nhiều điểm nghẽn: nguy cơ trở thành điểm trung chuyển đơn thuần, thiếu sản phẩm kinh tế ban đêm và trung tâm mua sắm cao cấp, cùng áp lực quá tải hạ tầng đe dọa không gian sinh thái ven biển.
Khoảng trống nghiên cứu (research gap) cốt lõi được xác định rõ ràng: Phần lớn các nghiên cứu trong nước trước đây chỉ tiếp cận hình ảnh điểm đến ở cấp độ quốc gia tổng thể (Phan Huy Xu & Võ Văn Thành, 2018; Dương et al., 2013) hoặc tập trung vào khách du lịch nội địa (Hoàng Thị Thu Hương, 2017; Trần Trung Vinh, 2019), trong khi các công trình định lượng chuyên sâu về nhận thức của du khách quốc tế đối với một đô thị cấp vùng (sub-national destination) tại Việt Nam trong kỷ nguyên hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng còn rất khan hiếm. Đặc biệt, sự biến thiên trong nhận thức hình ảnh trước chuyến đi (pre-visit) và sau chuyến đi (post-visit) của khách quốc tế chưa từng được lượng hóa hệ thống tại địa bàn Đà Nẵng.
Luận án giải quyết 4 câu hỏi nghiên cứu (Research Questions - RQ) và hệ thống giả thuyết tương ứng:
- RQ1: Những nhân tố thuộc tính nào cấu thành và tác động chi phối đến nhận thức của du khách quốc tế về hình ảnh điểm đến du lịch thành phố Đà Nẵng? (Giả thuyết H1-H14 kiểm định tác động của 14 thuộc tính nhận thức).
- RQ2: Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hình ảnh điểm đến trong tâm trí khách du lịch quốc tế trước khi đến và sau khi trải nghiệm thực tế tại Đà Nẵng hay không? (Giả thuyết H15 về hiệu ứng chuyển dịch nhận thức thực chứng).
- RQ3: Các đặc trưng nhân khẩu học (quốc tịch, độ tuổi, giới tính, học vấn, nghề nghiệp) và các kênh tiếp cận thông tin đóng vai trò kiểm soát và điều tiết như thế nào đối với nhận thức hình ảnh điểm đến? (Giả thuyết H16-H18).
- RQ4: Khung chiến lược và hệ giải pháp kinh tế phát triển nào có khả năng thúc đẩy hình ảnh điểm đến Đà Nẵng bứt phá trong mạng lưới chuỗi giá trị du lịch toàn cầu?
Khung lý thuyết của luận án được xây dựng dựa trên sự tích hợp giữa Lý thuyết hình thành hình ảnh điểm đến (Destination Image Formation Theory) của Echtner & Ritchie (1993), Baloglu & McCleary (1999), Beerli & Martin (2004), cùng Lý thuyết hành vi và lựa chọn điểm đến du lịch (Tourist Behavior and Destination Choice Models) của Woodside & Lysonski (1989) và Khung phát triển du lịch bền vững (Sustainable Tourism Framework) của Sharpley & Telfer (2014).
Ý nghĩa và phạm vi nghiên cứu: Về không gian, đề tài thực hiện trên toàn địa bàn thành phố Đà Nẵng; về thời gian, chuỗi số liệu thứ cấp phản ánh giai đoạn 2013 – 2023 và dữ liệu điều tra sơ cấp quy chuẩn $N=301$ khách du lịch quốc tế được thực hiện trong cao điểm quý I/2024 (trùng dịp Tết Dương lịch và Tết Nguyên đán 2024, thời điểm toàn thành phố đón khoảng 636.000 lượt khách quốc tế). Đóng góp đột phá của công trình nằm ở việc lượng hóa chính xác mức độ tác động của từng nhân tố cấu thành hình ảnh, cung cấp bằng chứng thực nghiệm vững chắc phục vụ hoạch định chính sách công và quản trị thương hiệu điểm đến.
Literature Review và Positioning
Tổng quan y văn quốc tế cho thấy nghiên cứu về hình ảnh điểm đến du lịch (destination image) đã phát triển liên tục từ thập niên 1970. O’Leary & Deegan (2003) khẳng định hình ảnh cảm nhận đóng vai trò then chốt trong quá trình đánh giá và ra quyết định lựa chọn điểm đến của du khách toàn cầu. Cohen, Prayag & Moital (2014) nhấn mạnh rằng sự bất ổn kinh tế, an ninh và an toàn đòi hỏi các tổ chức tiếp thị điểm đến (Destination Marketing Organizations - DMOs) phải tái định hình chiến lược để tạo sự khác biệt thương hiệu độc bản (Pike & Page, 2014).
Một dòng học thuật quan trọng tập trung vào tính năng động của hình ảnh du lịch qua thời gian. Gallarza et al. (2002) chỉ ra rằng hình ảnh không phải là một cấu trúc tĩnh tại mà biến đổi liên tục dựa trên trải nghiệm thực tế. Luận án đối chiếu sâu sắc với hai nghiên cứu quốc tế tiêu biểu:
- Nghiên cứu của Su & Wall (2008) tại Tây Tạng (Trung Quốc): Phân tích sự chuyển dịch hình ảnh trước và sau chuyến đi cho thấy trải nghiệm thực tế xóa bỏ các định kiến truyền thông ban đầu, làm gia tăng nhận thức về tính nguyên bản văn hóa.
- Nghiên cứu của Lee et al. (2012) về du khách Hàn Quốc đến Trung Á: Khẳng định hình ảnh sau chuyến thăm trở nên cụ thể, thân thiện và giàu cảm xúc hơn rất nhiều so với kỳ vọng trước chuyến đi.
Bên cạnh đó, các tranh luận học thuật (scholarly debates) nổi bật xoay quanh vai trò của các biến nhân khẩu học đối với việc định hình nhận thức. Một trường phái (Rafael & Almeida, 2017; Tasci et al., 2007) cho rằng đặc tính văn hóa, quốc gia xuất xứ và trình độ học vấn tạo nên sự phân hóa sâu sắc trong cảm nhận hình ảnh. Ngược lại, một số nghiên cứu thực nghiệm nhận thấy trong thời đại bùng nổ thông tin số và truyền miệng điện tử (eWOM), các yếu tố nhân khẩu học cá nhân có xu hướng bị trung hòa bởi các thuộc tính vật thể vượt trội của điểm đến (Baloglu & McCleary, 1999; Jalilvand et al., 2012).
Tại Việt Nam, các công trình của Phan Huy Xu & Võ Văn Thành (2018), Dương et al. (2013), Lê Thị Hà Quyên (2017), và Nguyễn Thị Lệ Hương & Trương Tấn Quân (2018) đã xây dựng thang đo hình ảnh điểm đến cho Việt Nam và Huế, song còn thiên về phân tích nhân tố khám phá (EFA) hoặc chỉ khảo sát khách nội địa. Đề tài khoa học cấp Bộ của Trần Trung Vinh (2019) khảo sát 618 du khách tại Đà Nẵng đã phát hiện một nghịch lý: yếu tố liên tưởng thương hiệu tác động tích cực đến sự hài lòng của khách nội địa nhưng lại không có ý nghĩa thống kê đối với khách quốc tế. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải phân tách đối tượng và sử dụng mô hình kinh tế lượng chuyên biệt cho phân khúc khách du lịch quốc tế. Luận án của Phạm Thái Hà đã định vị chính xác vào khoảng trống này, mở rộng biên độ phân tích sang bối cảnh hội nhập quốc tế toàn diện.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án đã đóng góp vào kho tàng lý thuyết kinh tế phát triển và quản trị du lịch thông qua việc mở rộng và kiểm định mô hình đa thuộc tính của Echtner & Ritchie (1993) và Beerli & Martin (2004) tại một thị trường du lịch mới nổi ở Đông Nam Á:
- Chuẩn hóa cấu trúc 14 nhân tố nhận thức điểm đến: Luận án hệ thống hóa 14 thuộc tính nhận thức đặc thù phản ánh toàn diện cả tài nguyên tự nhiên, tài nguyên nhân văn và môi trường thể chế - dịch vụ địa phương: (1) Điểm tham quan tự nhiên, (2) Giờ nắng và bãi biển, (3) Di sản văn hóa/lịch sử, (4) Sự đa dạng ẩm thực, (5) Sự thân thiện và hiếu khách, (6) Hệ thống cơ sở lưu trú, (7) Giao thông và hạ tầng địa phương, (8) Hội chợ/triển lãm và lễ hội, (9) Giá cả, (10) Cuộc sống về đêm và giải trí, (11) Tiện nghi mua sắm, (12) Ngôn ngữ sử dụng, (13) Chính trị ổn định, (14) An toàn cá nhân.
- Chứng minh quy luật chuyển dịch nhận thức (Pre-visit vs. Post-visit Paradigm): Bằng chứng thực nghiệm xác nhận luận điểm của Gallarza et al. (2002), chỉ ra rằng nhận thức của khách quốc tế sau khi trải nghiệm thực tế tại Đà Nẵng có sự thay đổi rõ nét so với kỳ vọng ban đầu, chứng minh hình ảnh điểm đến là một hàm số động phụ thuộc vào mức độ tương tác trực tiếp của du khách với không gian địa phương.
- Xác lập ranh giới điều kiện của biến nhân khẩu học: Luận án phát hiện đóng góp mang tính đột phá: trình độ học vấn không tạo ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê đối với nhận thức hình ảnh điểm đến Đà Nẵng của khách quốc tế. Kết quả này thách thức các giả định phân khúc thị trường truyền thống, mở ra hướng tiếp cận tiêu chuẩn hóa dịch vụ cốt lõi trong kinh tế phát triển du lịch.
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án kết hợp đa chiều giữa 3 lý thuyết nền tảng:
- Lý thuyết hình thành hình ảnh điểm đến (định danh các chiều kích thuộc tính nhận thức - cognitive và cảm xúc - affective);
- Lý thuyết giá trị khách hàng và khai thác tài nguyên của Ndubisi et al. (2021) (luận giải mối quan hệ giữa chất lượng tài nguyên thiên nhiên, văn hóa và mức độ thỏa mãn của du khách);
- Lý thuyết phát triển bền vững của Sharpley & Telfer (2014) (gắn kết chặt chẽ sự tăng trưởng hình ảnh du lịch với việc bảo tồn tài nguyên, ổn định xã hội và nâng cao sinh kế cộng đồng).
Điều kiện biên (boundary conditions) của mô hình được xác định rõ: áp dụng cho nhóm khách du lịch quốc tế có mục đích nghỉ dưỡng, khám phá văn hóa và sự kiện tại các đô thị ven biển đang trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Luận án tuân thủ nghiêm ngặt quan điểm triết học thực chứng (Positivism paradigm), phối hợp phương pháp tiếp cận liên ngành (kinh tế phát triển, xã hội học, địa lý du lịch) và tư duy hệ thống. Thiết kế nghiên cứu hỗn hợp (mixed methods) được thực hiện qua hai giai đoạn:
- Giai đoạn định tính: Rà soát y văn quốc tế, đối chiếu thực tiễn phát triển của Đà Nẵng, thảo luận chuyên gia và tham vấn các nhà quản lý du lịch địa phương, doanh nghiệp lữ hành để định danh và hoàn thiện thang đo 14 nhóm nhân tố ảnh hưởng.
- Giai đoạn định lượng: Khảo sát diện rộng bằng bảng hỏi cấu trúc để lượng hóa mối quan hệ giữa các thuộc tính điểm đến, đặc điểm nhân khẩu học và nhận thức tổng thể của du khách quốc tế.
Quy trình nghiên cứu rigorous
Quy trình chọn mẫu được thực hiện khoa học dựa trên công thức xác định cỡ mẫu của Yamane (1967) cho tổng thể xác định:
$$n = \frac{N}{1 + N \cdot e^2} \quad \text{hoặc} \quad n = \frac{N \cdot Z^2 \cdot p \cdot (1-p)}{N \cdot e^2 + Z^2 \cdot p \cdot (1-p)}$$
Với tổng thể khách quốc tế đến Đà Nẵng trong quý I/2024 ước tính $N = 636.000$ lượt, mức độ tin cậy được chọn là 90% ($Z = 1{,}645$), tỷ lệ ước tính phương sai lớn nhất $p = 0{,}5$, và sai số cho phép $e = 5%$ ($0{,}05$), cỡ mẫu tối thiểu được xác định chính xác là:
$$n = \frac{636.000 \cdot (1{,}645)^2 \cdot 0{,}5 \cdot 0{,}5}{636.000 \cdot (0{,}05)^2 + (1{,}645)^2 \cdot 0{,}5 \cdot 0{,}5} \approx 301$$
Luận án đã thu thập thành công 301 phiếu điều tra hợp lệ từ khách du lịch quốc tế trong tháng 01 và 02 năm 2024 tại các điểm du lịch trọng điểm, sân bay quốc tế và cơ sở lưu trú cao cấp tại Đà Nẵng. Thang đo Likert 5 mức độ (từ 1 = Hoàn toàn không đồng ý đến 5 = Hoàn toàn đồng ý) được áp dụng đồng nhất. Thử nghiệm độ tin cậy thang đo qua hệ số Cronbach’s Alpha và kiểm định giá trị hội tụ, giá trị phân biệt được thực hiện kỹ lưỡng.
Data và phân tích
Luận án sử dụng phương pháp kinh tế lượng bình phương nhỏ nhất thông thường (Ordinary Least Squares - OLS) để ước lượng mô hình hồi quy đa biến:
$$NT_i = \beta_0 + \sum_{k=1}^{14} \beta_k X_{ki} + \sum_{m=1}^{M} \gamma_m D_{mi} + \epsilon_i$$
Trong đó:
- $NT_i$: Nhận thức về hình ảnh điểm đến du lịch Đà Nẵng của du khách $i$;
- $X_{ki}$: 14 nhóm nhân tố thuộc tính cấu thành hình ảnh điểm đến;
- $D_{mi}$: Các biến kiểm soát nhân khẩu học (quốc tịch, giới tính, độ tuổi, học vấn, tình trạng nghề nghiệp) và nguồn thông tin;
- $\beta, \gamma$: Các hệ số hồi quy cần ước lượng;
- $\epsilon_i$: Sai số ngẫu nhiên.
Ưu thế vượt trội của việc lựa chọn mô hình OLS so với mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) thuần túy trong trường hợp này là khả năng đưa trực tiếp các biến giả nhân khẩu học và nguồn thông tin vào phương trình hồi quy, kiểm soát hiện tượng đa cộng tuyến thông qua hệ số phóng đại phương sai (Variance Inflation Factor - VIF < 2, đảm bảo không có hiện tượng cộng tuyến nghiêm trọng), đồng thời đánh giá tác động trực tiếp của từng biến số thực nghiệm lên biến phụ thuộc.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
Phân tích định lượng và thực chứng từ tập dữ liệu sơ cấp và thứ cấp của luận án mang lại 5 phát hiện cốt lõi:
- Sự bùng nổ hạ tầng và năng lực tiếp đón vượt bậc: Giai đoạn 1997 – 2023 chứng kiến sự chuyển mình thần tốc của hạ tầng du lịch Đà Nẵng: từ 58 khách sạn với 1.948 phòng (năm 1997), đến năm 2023 thành phố đã phát triển quy mô lên khoảng 1.287 cơ sở lưu trú du lịch với hơn 46.767 phòng, đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn đón tiếp các sự kiện nguyên thủ quốc tế như APEC.
- Nhóm nhân tố thế mạnh cốt lõi đạt điểm số nhận thức vượt trội: Kết quả thống kê mô tả chỉ ra rằng khách du lịch quốc tế đánh giá cao nhất các nhân tố thuộc tính: An toàn cá nhân, Chính trị ổn định, Sự thân thiện và hiếu khách của người dân địa phương, Giờ nắng và bãi biển, cùng Điểm tham quan tự nhiên ($p < 0{,}01$). Đây là những trụ cột vững chắc tạo nên danh tiếng "thành phố đáng sống" của Đà Nẵng.
- Các điểm nghẽn cấu trúc trong chuỗi cung ứng dịch vụ: Hai nhân tố bị du khách quốc tế đánh giá ở mức thấp nhất là Tiện nghi mua sắm (thiếu vắng các trung tâm thương mại miễn thuế và thương hiệu cao cấp quốc tế) và Cuộc sống về đêm cùng hoạt động vui chơi giải trí (các dịch vụ đêm còn đơn điệu, phân tán, thiếu các tổ hợp giải trí đẳng cấp quốc tế).
- Hiệu ứng chuyển dịch nhận thức thực chứng (Post-visit vs. Pre-visit): Tồn tại sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhận thức trước và sau chuyến đi. Du khách quốc tế sau khi trực tiếp trải nghiệm có sự gia tăng mạnh mẽ về mức độ hài lòng đối với ẩm thực địa phương và thái độ mến khách của người dân, chứng tỏ thực tế trải nghiệm tại Đà Nẵng đã vượt qua kỳ vọng truyền thông ban đầu.
- Tính trung lập của biến trình độ học vấn: Kết quả ước lượng hồi quy chỉ ra biến số trình độ học vấn không có ảnh hưởng mang ý nghĩa thống kê đến nhận thức hình ảnh điểm đến. Ngược lại, nguồn thông tin tiếp cận qua internet và truyền thông xã hội tác động thuận chiều mạnh mẽ nhất đến quyết định và nhận thức của du khách.
Implications đa chiều
- Hàm ý lý thuyết: Khẳng định tính đa chiều của hình ảnh điểm đến tại các đô thị biển thuộc quốc gia đang phát triển; cung cấp cơ sở kiểm chứng cho mô hình tích hợp giữa thuộc tính nhận thức và biến kiểm soát nhân khẩu học.
- Hàm ý phương pháp luận: Chuẩn hóa quy trình ứng dụng công thức Yamane kết hợp phân tích hồi quy OLS và so sánh cặp mẫu trước - sau chuyến đi, mở ra mô hình phân tích có thể chuyển giao cho các điểm đến khác như Nha Trang, Phú Quốc hay Quảng Ninh.
- Hàm ý thực tiễn và chính sách:
- Mô hình quản trị điểm đến: Thành lập Tổ chức Quản lý Điểm đến Đà Nẵng (Da Nang DMO) theo mô hình tổ chức Destination Gold Coast (DGC) của Úc nhằm liên kết 792+ đơn vị dịch vụ, vận hành trung tâm thông tin du khách chuyên nghiệp.
- Đột phá chính sách thị thực và kết nối: Tham mưu Chính phủ mở rộng cơ chế visa linh hoạt, nghiên cứu áp dụng visa nhiều lần thời hạn 3 năm tương tự kinh nghiệm của Úc đối với các thị trường khách trọng điểm.
- Phát triển kinh tế ban đêm và thương mại du lịch: Quy hoạch các tổ hợp giải trí về đêm biệt lập, xây dựng trung tâm mua sắm miễn thuế (Duty-Free Mall) để gia tăng mức chi tiêu bình quân/ngày của khách quốc tế.
- Phát triển du lịch bền vững: Cân bằng giữa mật độ xây dựng cao tầng ven biển với bảo tồn đa dạng sinh học bán đảo Sơn Trà và vịnh Đà Nẵng, ngăn chặn hiện tượng bê tông hóa lấn át cảnh quan thiên nhiên.
Limitations và Future Research
Luận án thẳng thắn chỉ ra 3 giới hạn nghiên cứu chính:
- Giới hạn thời gian thu thập mẫu: Dữ liệu sơ cấp được thu thập tập trung trong 2 tháng cao điểm (tháng 01 và 02/2024), do đó chưa phản ánh được toàn bộ sự biến thiên nhận thức của du khách quốc tế theo các mùa du lịch khác nhau trong năm (mùa khô và mùa mưa bão miền Trung).
- Giới hạn về phương pháp lượng hóa: Mô hình OLS lượng hóa hiệu quả các tác động trực tiếp nhưng chưa mô hình hóa được các mối quan hệ tác động gián tiếp đa tầng giữa nhận thức hình ảnh, giá trị cảm nhận, sự hài lòng và lòng trung thành như trong mô hình cấu trúc bình phương nhỏ nhất từng phần (PLS-SEM).
- Phạm vi địa lý: Nghiên cứu mới khu biệt tại ranh giới hành chính Đà Nẵng, chưa mở rộng phân tích liên kết cụm điểm đến di sản Miền Trung (Huế – Đà Nẵng – Hội An).
Chương trình nghiên cứu tiếp theo (Future Research Agenda) cần tập trung vào:
- Thực hiện nghiên cứu theo chuỗi thời gian (longitudinal design) qua 4 mùa du lịch để đánh giá tính bền vững của hình ảnh điểm đến;
- Ứng dụng mô hình PLS-SEM kết hợp phân tích đa nhóm (Multi-group Analysis - MGA) giữa các thị trường khách Đông Bắc Á, Châu Âu, Bắc Mỹ và Úc;
- Đánh giá tác động của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI) và mô hình đô thị du lịch thông minh (Smart Tourism Destination) đến trải nghiệm du khách.
Tác động và ảnh hưởng
- Ảnh hưởng học thuật: Luận án tạo lập bộ dữ liệu thực nghiệm chuẩn mực về nhận thức khách quốc tế tại Đà Nẵng, mở ra tiền đề trích dẫn quan trọng cho các công trình nghiên cứu về kinh tế du lịch và quản trị điểm đến tại Việt Nam.
- Chuyển đổi ngành du lịch: Cung cấp luận cứ khoa học để các tập đoàn du lịch, khách sạn và hãng lữ hành tái cấu trúc gói sản phẩm, tập trung vào du lịch MICE, du lịch golf, sự kiện lễ hội quốc tế và nghỉ dưỡng cao cấp.
- Tác động chính sách: Cung cấp cơ sở dữ liệu và khuyến nghị trực tiếp cho Sở Du lịch, UBND thành phố Đà Nẵng trong việc rà soát quy hoạch ngành du lịch, hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết 43-NQ/TW của Bộ Chính trị.
- Lợi ích xã hội: Thúc đẩy mô hình phát triển du lịch cộng đồng hài hòa, bảo tồn bản sắc văn hóa địa phương, tạo việc làm chất lượng cao và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân đô thị.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh và học viên cao học: Tiếp cận khung phân tích kinh tế lượng hoàn chỉnh, phương pháp xác định cỡ mẫu Yamane chuẩn xác và phương pháp luận thiết kế bảng hỏi quốc tế.
- Các nhà khoa học và giảng viên: Sử dụng tài liệu như một ca nghiên cứu điển hình (case study) sâu sắc về kinh tế phát triển và quản trị tiếp thị địa phương tại Việt Nam.
- Nhà quản trị doanh nghiệp du lịch: Nắm bắt chính xác các thuộc tính được khách quốc tế đánh giá cao và các điểm thiếu hụt để tối ưu hóa chiến lược sản phẩm và xúc tiến thương hiệu.
- Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Có cơ sở khoa học để ban hành các quy chế quản lý trật tự du lịch, thu hút đầu tư hạ tầng thương mại - giải trí và điều chỉnh chiến lược quảng bá đối ngoại.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?
Đó là việc mở rộng Lý thuyết hình thành hình ảnh điểm đến của Echtner & Ritchie (1993) thông qua việc chứng minh tính độc lập của biến trình độ học vấn trong mô hình hồi quy nhận thức du khách quốc tế tại đô thị đang phát triển, đồng thời lượng hóa được khoảng cách nhận thức trước và sau chuyến đi (pre-visit vs. post-visit image gap).
2. Điểm mới về phương pháp luận so với các nghiên cứu trước đây?
So với nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Thủy (2013) còn hạn chế về chọn mẫu và nghiên cứu của Trần Trung Vinh (2019) gộp chung mẫu khách nội địa và quốc tế, luận án đã tách biệt tập mẫu 301 khách quốc tế, xác định cỡ mẫu nghiêm ngặt bằng công thức Yamane trên tổng thể $N=636.000$, sử dụng mô hình kinh tế lượng OLS kiểm soát đa cộng tuyến qua VIF và tích hợp trực tiếp các biến nhân khẩu học vào hàm hồi quy.
3. Phát hiện bất ngờ nhất từ dữ liệu thực nghiệm là gì?
Kết quả ước lượng cho thấy trình độ học vấn của du khách quốc tế không có tác động ý nghĩa thống kê ($p > 0{,}05$) đến nhận thức về hình ảnh điểm đến Đà Nẵng. Điều này cho thấy hình ảnh cốt lõi về sự an toàn, bãi biển và tính thân thiện của Đà Nẵng có sức lan tỏa phổ quát đến mọi tầng lớp tri thức của du khách quốc tế.
4. Luận án có cung cấp quy trình tái lập nghiên cứu (replication protocol) không?
Có. Luận án công khai chi tiết cấu trúc bảng hỏi, danh mục 14 biến quan sát, quy trình chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng tại các cửa khẩu và điểm tham quan, cùng công thức toán học và kiểm định kinh tế lượng đầy đủ, cho phép tái lập nghiên cứu tại bất kỳ điểm đến du lịch nào.
5. Lộ trình nghiên cứu 10 năm tiếp theo được định hình như thế nào?
Tập trung vào 3 hướng chính: (1) Mô hình hóa tác động của chuyển đổi số và du lịch thông minh đến giá trị thương hiệu điểm đến; (2) Đánh giá sức chịu tải môi trường và tính bền vững sinh thái biển theo tiêu chuẩn Net Zero; (3) Nghiên cứu liên kết thương hiệu vùng kinh tế trọng điểm miền Trung trong chuỗi giá trị du lịch toàn cầu.
Kết luận
Công trình luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Thái Hà đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu đề ra với những đóng góp nền tảng:
- Hệ thống hóa và làm sâu sắc cơ sở lý luận về phát triển hình ảnh điểm đến du lịch dưới lăng kính kinh tế phát triển trong thời kỳ hội nhập quốc tế toàn diện.
- Chuẩn hóa bộ thang đo 14 nhân tố thuộc tính nhận thức và kiểm định thành công trên tập dữ liệu thực chứng 301 du khách quốc tế tại Đà Nẵng.
- Cung cấp bằng chứng thực nghiệm rõ ràng về bước chuyển nhận thức tích cực của du khách sau khi trực tiếp trải nghiệm điểm đến, khẳng định giá trị vượt trội của tài nguyên tự nhiên, an toàn chính trị và văn hóa hiếu khách địa phương.
- Chỉ ra chính xác các điểm nghẽn hạ tầng về kinh tế đêm và tiện nghi mua sắm thương mại, giải tỏa áp lực cạnh tranh điểm đến trung chuyển trong khu vực.
- Đề xuất hệ thống giải pháp mang tính chiến lược khả thi cao: từ thành lập tổ chức DMO chuyên nghiệp, đột phá chính sách visa 3 năm nhập cảnh nhiều lần, đến phát triển đô thị du lịch sinh thái thông minh theo tinh thần Nghị quyết 43-NQ/TW của Bộ Chính trị.
- Mở ra các hướng nghiên cứu học thuật mới về quản trị điểm đến bền vững, để lại dấu ấn khoa học và giá trị thực tiễn lâu dài cho ngành kinh tế du lịch Việt Nam.