Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Phát triển hình ảnh điểm đến du lịch thành phố Đà Nẵng đối với khách du lịch quốc tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế" do tác giả Phạm Thái Hà thực hiện thuộc chuyên ngành Kinh tế Phát triển (mã số 9.05), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Hoàng Hồng Hiệp và PGS. Nguyễn Chiến Thắng tại Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (năm 2024).
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Du lịch giữ vai trò then chốt đối với tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu và giao lưu văn hóa quốc tế. Đối với một điểm đến, hình ảnh điểm đến tích cực là nhân tố quyết định thúc đẩy hành vi lựa chọn, mức độ hài lòng và ý định quay trở lại cũng như lời giới thiệu của du khách. Kể từ khi chia tách từ tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng năm 1997 để trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, Đà Nẵng đã trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa của khu vực duyên hải miền Trung, sở hữu nhiều điều kiện tự nhiên và nhân văn thuận lợi như đèo Hải Vân, danh thắng Ngũ Hành Sơn, bán đảo Sơn Trà, Khu du lịch Bà Nà Hills, hệ thống bãi tắm ven biển và các thiết chế văn hóa (Bảo tàng Nghệ thuật điêu khắc Chăm, Bảo tàng Đà Nẵng, Bảo tàng Mỹ thuật, Nhà thờ Con Gà). Địa phương cũng đã tổ chức nhiều sự kiện quốc tế như Tuần lễ Cấp cao APEC 2017, Cuộc đua thuyền buồm quốc tế Clipper Race, Cuộc thi Marathon quốc tế, Cuộc thi Ironman 70.3, Lễ hội Cocofest 2016, Lễ hội Pháo hoa quốc tế, đồng thời được nhiều tạp chí và tổ chức quốc tế xếp hạng (Top 10 điểm đến hấp dẫn châu Á của Smart Travel Asia; Top 10 điểm đến mới nổi năm 2015 của Tripadvisor; vị trí 15/52 điểm đến của New York Times năm 2019; đánh giá của NZ Herald News năm 2023).
Tuy nhiên, trong bối cảnh cạnh tranh gia tăng sau đại dịch COVID-19 giữa các tỉnh duyên hải miền Trung, du lịch Đà Nẵng bộc lộ các hạn chế: nguy cơ trở thành điểm trung chuyển khách cho Thừa Thiên Huế, Quảng Bình, Quảng Nam; sản phẩm du lịch chưa thật sự đa dạng; thiếu các trung tâm mua sắm tập trung, thiếu hoạt động giải trí trong nhà và dịch vụ kinh tế ban đêm; tốc độ gia tăng cơ sở lưu trú ven biển lấn át không gian công cộng và cảnh quan thiên nhiên; tình trạng chèo kéo khách và các vấn đề an ninh trật tự gây ảnh hưởng đến cảm nhận chung. Để thực hiện mục tiêu phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn theo tinh thần Nghị quyết số 43-NQ/TW ngày 24/01/2019 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, việc nghiên cứu có hệ thống và lượng hóa các nhân tố tác động đến nhận thức của khách quốc tế về hình ảnh điểm đến là yêu cầu cấp bách.
Mục đích nghiên cứu: Đưa ra hệ thống quan điểm, định hướng và đề xuất các giải pháp nhằm phát triển hình ảnh điểm đến du lịch thành phố Đà Nẵng đối với khách du lịch quốc tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, dựa trên cơ sở lý luận, bài học thực tiễn, phân tích thực trạng và mô hình hóa các nhân tố ảnh hưởng.
Hệ thống nhiệm vụ nghiên cứu của luận án gồm 5 nội dung:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và các bài học thực tiễn về phát triển hình ảnh điểm đến du lịch để xây dựng khung phân tích nghiên cứu.
- Điều tra, khảo sát, thu thập và tổng hợp thông tin nhằm phân tích thực trạng phát triển ngành du lịch và hình ảnh điểm đến du lịch thành phố Đà Nẵng đối với khách quốc tế trong thời gian qua.
- Sử dụng kết quả điều tra sơ cấp để đánh giá thực trạng phát triển du lịch qua cảm nhận của khách du lịch quốc tế, xác định sự khác biệt trong nhận thức về hình ảnh điểm đến trước và sau chuyến đi thực tế tại Đà Nẵng.
- Ứng dụng các mô hình kinh tế lượng để lượng hóa các nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức của khách du lịch quốc tế về hình ảnh điểm đến du lịch thành phố Đà Nẵng, cung cấp căn cứ khoa học cho các hàm ý chính sách.
- Đề xuất hệ thống quan điểm, định hướng và giải pháp có cơ sở khoa học và tính khả thi nhằm phát triển hình ảnh điểm đến du lịch thành phố Đà Nẵng đối với khách du lịch quốc tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển hình ảnh điểm đến du lịch; các nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức của khách du lịch quốc tế về hình ảnh điểm đến du lịch thành phố Đà Nẵng; các giải pháp phát triển hình ảnh điểm đến trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
- Phạm vi không gian: Địa bàn thành phố Đà Nẵng.
- Phạm vi thời gian: Thực trạng phát triển hình ảnh điểm đến du lịch giai đoạn 2013 – 2023; số liệu điều tra sơ cấp được thu thập vào cuối năm 2023 và đầu năm 2024 (cụ thể trong tháng 01 và tháng 02 năm 2024).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng quan hệ thống nghiên cứu trong và ngoài nước theo các nhóm nội dung chính:
-
Các nghiên cứu quốc tế về hình ảnh điểm đến và nhận thức của du khách: O’Leary và Deegan (2003) phân tích vai trò của hình ảnh điểm đến trong quá trình đánh giá và quyết định lựa chọn của khách du lịch. Cohen, Prayag và Moital (2014) khảo sát các thách thức về an toàn, an ninh và biến động kinh tế tác động đến hành vi của người tiêu dùng du lịch. Tan và Wu (2016) chỉ ra mối liên hệ giữa mức độ quen thuộc, tần suất tương tác với sự định hình hình ảnh điểm đến thực tế hơn. Prayag và Ryan (2012) cùng Phillips và cộng sự (2013) khẳng định hình ảnh điểm đến tác động trực tiếp đến sự hài lòng và ý định quay trở lại. Assaker và cộng sự (2011) chứng minh hình ảnh thuận lợi nâng cao giá trị cảm nhận của chuyến đi. Về sự biến đổi nhận thức theo thời gian, Gallarza và cộng sự (2002), Su và Wall (2008), Lee và cộng sự (2012) tập trung so sánh hình ảnh trước chuyến đi (pre-visit image) và hình ảnh sau chuyến đi (post-visit image). Suarez (2011) cùng Woodside và Lysonski (1989) phân tích tác động tương hỗ giữa nguồn thông tin sơ cấp và thứ cấp trong việc hình thành hình ảnh điểm đến. Baloglu và McCleary (1999), Rafael và Almeida (2017), Tasci và cộng sự (2007) nhấn mạnh vai trò của các yếu tố nhân khẩu học, chuẩn mực văn hóa và phương tiện truyền thông trực tuyến đối với cấu trúc nhận thức điểm đến. Echtner và Ritchie (1993), Jenkins (1999), Beerli và Martin (2004), Yilmaz và cộng sự (2009) cung cấp hệ thống thuộc tính và thang đo các nhân tố cấu thành hình ảnh điểm đến.
-
Các nghiên cứu trong nước về hình ảnh điểm đến: Phan Huy Xu và Võ Văn Thành (2018) nghiên cứu hình ảnh du lịch Việt Nam qua khảo sát 1.031 khách quốc tế, phân tích tương quan cạnh tranh sản phẩm di sản văn hóa với các nước Đông Nam Á. Dương và cộng sự (2013) xác định 6 nhân tố cấu thành hình ảnh điểm đến Việt Nam tác động đến dự định quay trở lại của du khách quốc tế (hấp dẫn văn hóa - ẩm thực; môi trường tự nhiên và hạ tầng kỹ thuật; yếu tố chính trị và hạ tầng du lịch; môi trường kinh tế xã hội; tài nguyên tự nhiên và ngôn ngữ; bầu không khí điểm đến). Lê Thị Hà Quyên (2017) khảo sát 22 thuộc tính hình ảnh điểm đến Huế đối với du khách Thái Lan và rút gọn thành 4 nhóm nhân tố. Nguyễn Thị Lệ Hương và Trương Tấn Quân (2018) đề xuất khung thang đo gồm 32 nhân tố hình ảnh nhận thức, 4 nhân tố hình ảnh tình cảm và 5 nhân tố hình ảnh tổng thể đối với du lịch Huế. Trần Thị Ngọc Liên và Trần Thị Ngọc Diệp (2017) đánh giá vai trò của truyền miệng điện tử (eWOM) đối với việc hình thành hình ảnh điểm đến của khách du lịch châu Âu. Nguyễn Thị Kiều Nga (2015) cảnh báo về tình trạng phát triển hạ tầng lưu trú cao tầng ven biển gây áp lực lên không gian xanh tại Đà Nẵng.
-
Các nghiên cứu về điểm đến Đà Nẵng: Nguyễn Thị Bích Thủy (2013) nghiên cứu đo lường hình ảnh điểm đến Đà Nẵng đối với du khách quốc tế nhưng còn hạn chế về quy mô chọn mẫu và mô hình hóa. Nguyễn Thị Quỳnh Hương và Trần Minh Phương (2019) phân tích 325 phiếu khảo sát khách quốc tế, chỉ ra các yếu tố được đánh giá cao gồm phong cảnh thiên nhiên, cơ sở lưu trú, giải trí và an ninh an toàn. Hoàng Thị Thu Hương (2017) nghiên cứu quyết định lựa chọn điểm đến Đà Nẵng và Huế của người dân Hà Nội, nhấn mạnh vai trò của thông tin truyền miệng đối với Đà Nẵng. Một số tác giả nghiên cứu các điểm đến đơn lẻ như Phùng Văn Thành (2014) về Ngũ Hành Sơn, Võ Lữ Diệu Phương (2016) về Bà Nà, Nguyễn Thị Kim Nghĩa và cộng sự (2017) về Hội An. Nguyễn Thị Thanh Huyền (2017) đề xuất định hướng phát triển du lịch thông minh cho Đà Nẵng. Đề tài cấp Bộ của PGS. Trần Trung Vinh (2019) phân tích tài sản thương hiệu và sự hài lòng của 618 du khách, phát hiện hình ảnh thương hiệu chưa cho thấy tác động rõ rệt đến sự hài lòng của nhóm khách quốc tế, song chưa tách biệt độc lập mẫu nghiên cứu.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết:
- Thiếu công trình nghiên cứu định lượng chuyên sâu tiếp cận dưới góc độ Kinh tế Phát triển tập trung riêng vào đối tượng khách du lịch quốc tế tại thành phố Đà Nẵng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
- Chưa có công trình phân tích so sánh sự biến đổi nhận thức của khách quốc tế về hình ảnh điểm đến du lịch Đà Nẵng giữa hai thời điểm trước chuyến đi và sau chuyến đi thực tế.
- Các nghiên cứu trước đây tại địa phương chủ yếu ứng dụng mô hình phương trình cấu trúc tuyến tính (SEM) dựa hoàn toàn trên các biến nhận thức cảm tính qua thang đo Likert, chưa tích hợp đầy đủ các biến nhân khẩu học khách quan và các nguồn kênh thông tin vào mô hình kinh tế lượng để kiểm định vai trò giải thích đối với nhận thức hình ảnh điểm đến.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án kế thừa và hệ thống hóa các khái niệm nền tảng:
- Khái niệm du lịch: Từ định nghĩa ban đầu của Guyer - Feuler (1905), định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) tại Hội nghị Ottawa năm 1991 (được UNSD chuẩn thuận năm 1993) và Luật Du lịch Việt Nam năm 2017, du lịch được xác định là hiện tượng kinh tế - xã hội gắn liền với sự di chuyển và lưu trú ngoài nơi cư trú thường xuyên không quá 1 năm liên tục nhằm mục đích nghỉ dưỡng, giải trí hoặc các mục đích hợp pháp khác.
- Điểm đến du lịch: Được tiếp cận song song từ phía cung (không gian địa lý có ranh giới xác định, có hệ thống quản lý, chính sách và cơ sở cung ứng dịch vụ) và phía cầu (địa điểm người tiêu dùng lựa chọn để lưu trú và trải nghiệm tổ hợp sản phẩm du lịch).
- Phát triển hình ảnh điểm đến du lịch: Kế thừa quan điểm phát triển đa chiều của Sharpley và Telfer (2014), Ige và Abiodun (2021) cùng Manhas và cộng sự (2016), phát triển hình ảnh điểm đến không chỉ là sự gia tăng số lượng khách hay doanh thu mà là quá trình nâng cao chất lượng tài nguyên, cơ sở hạ tầng, dịch vụ và định vị một hình ảnh tích cực, khác biệt trong tâm trí thị trường mục tiêu.
Năm nội dung phát triển hình ảnh điểm đến du lịch được luận án xác lập gồm:
- Phát triển tài nguyên du lịch (tự nhiên và văn hóa).
- Phát triển các sản phẩm và dịch vụ du lịch đặc thù.
- Phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch.
- Phát triển nguồn nhân lực du lịch chất lượng.
- Phát triển môi trường điểm đến an toàn, an ninh và trật tự xã hội.
Trên cơ sở tổng hợp khung lý thuyết quốc tế và bối cảnh thực tiễn Đà Nẵng, luận án định danh 14 nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức của khách du lịch quốc tế:
| STT |
Nhân tố ảnh hưởng |
Echtner và Ritchie (1993) |
Jenkins (1999) |
Beerli và Martin (2004) |
Yilmaz và cộng sự (2009) |
| 1 |
Giá cả |
x |
|
x |
|
| 2 |
Cuộc sống về đêm và hoạt động vui chơi giải trí |
x |
|
x |
|
| 3 |
Điểm tham quan thiên nhiên |
x |
x |
x |
x |
| 4 |
Sự thân thiện và hiếu khách của người dân |
|
x |
x |
x |
| 5 |
Ngôn ngữ được sử dụng |
|
x |
|
|
| 6 |
Giờ nắng và bãi biển |
x |
|
x |
x |
| 7 |
Sự đa dạng của ẩm thực |
|
x |
x |
|
| 8 |
Giao thông/hạ tầng địa phương |
x |
|
x |
x |
| 9 |
An toàn cá nhân |
|
x |
x |
x |
| 10 |
Chính trị ổn định |
|
x |
x |
|
| 11 |
Hội chợ, triển lãm và lễ hội |
|
x |
x |
|
| 12 |
Di sản văn hóa/lịch sử |
|
x |
x |
|
| 13 |
Hệ thống cơ sở lưu trú |
|
|
x |
x |
| 14 |
Tiện nghi mua sắm |
|
|
x |
|
Khung phân tích của luận án kết hợp 14 nhân tố trên cùng các biến nhân khẩu học của du khách (quốc gia/khu vực xuất xứ, giới tính, tình trạng nghề nghiệp, trình độ học vấn) và các kênh tiếp nhận thông tin du lịch.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng kết hợp các cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu:
- Cách tiếp cận: Tiếp cận liên ngành (kinh tế phát triển, xã hội học, địa lý du lịch), tiếp cận hệ thống (xem xét điểm đến trong mối quan hệ hữu cơ giữa hệ thống tự nhiên, nhân văn và kinh tế - xã hội vùng), tiếp cận phát triển bền vững (cân bằng ba trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường).
- Phương pháp điều tra xã hội học và xác định cỡ mẫu: Thu thập số liệu sơ cấp qua bảng hỏi đối với khách du lịch quốc tế tại Đà Nẵng trong tháng 01 và 02 năm 2024. Căn cứ lượng khách quốc tế đến Đà Nẵng quý I/2024 là $N = 636.000$ lượt, luận án áp dụng công thức xác định cỡ mẫu của Yamane (1967) với mức độ tin cậy 90% ($Z = 1,645$), tỷ lệ ước tính phương sai lớn nhất $p = 0,5$ và sai số cho phép $E = 0,05$:
$$n = \frac{N \cdot Z^2 \cdot p \cdot (1 - p)}{N \cdot E^2 + Z^2 \cdot p \cdot (1 - p)} = \frac{636000 \cdot (1,645)^2 \cdot 0,5 \cdot 0,5}{636000 \cdot (0,05)^2 + (1,645)^2 \cdot 0,5 \cdot 0,5} \approx 301$$
Quy mô mẫu điều tra chính thức đạt 301 khách du lịch quốc tế, đảm bảo tính đại diện cho tổng thể theo tiêu chuẩn thống kê.
- Phương pháp kinh tế lượng: Luận án sử dụng phương pháp hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS). Việc lựa chọn OLS thay vì SEM xuất phát từ mục tiêu kiểm định đồng thời các biến nhận thức thuộc tính điểm đến và các biến nhân khẩu học khách quan của du khách để lượng hóa mức độ ảnh hưởng đến nhận thức hình ảnh điểm đến, đồng thời kiểm soát hiện tượng đa cộng tuyến qua hệ số phóng đại phương sai (VIF).
- Các phương pháp bổ trợ: Phương pháp so sánh đối chiếu số liệu theo chuỗi thời gian (2013 – 2023) và không gian lãnh thổ; phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình (case study) tại thành phố Gold Coast (Úc) và Thượng Hải (Trung Quốc); phương pháp phân tích ma trận SWOT; phương pháp tham vấn chuyên gia quản lý và doanh nghiệp lữ hành, lưu trú.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương 1 thực hiện tổng thuật hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo 4 cụm nội dung: nghiên cứu về hình ảnh điểm đến; nghiên cứu về nhận thức của du khách; nghiên cứu về hình ảnh du lịch Việt Nam và các địa phương; nghiên cứu thực nghiệm tại thành phố Đà Nẵng. Tác giả chỉ ra các khoảng trống khoa học cơ bản: phần lớn các nghiên cứu trong nước tiếp cận theo hướng tiếp thị dịch vụ, chưa đặt hình ảnh điểm đến vào cấu trúc kinh tế phát triển địa phương trong bối cảnh hội nhập; các nghiên cứu về Đà Nẵng còn thiếu các tập dữ liệu điều tra sơ cấp riêng cho khách quốc tế; chưa có công trình lượng hóa mức độ biến thiên nhận thức của du khách trước và sau chuyến đi thực tế.
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN HÌNH ẢNH ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH
Chương 2 hoàn thiện hệ thống cơ sở lý luận về điểm đến, hình thành nhận thức và các nội dung phát triển hình ảnh điểm đến du lịch (tài nguyên, sản phẩm dịch vụ, hạ tầng, nguồn nhân lực và an toàn an ninh). Tác giả đã định danh 14 nhân tố ảnh hưởng dựa trên đối chiếu lý thuyết quốc tế với điều kiện thực tế của Đà Nẵng.
Phần thực tiễn phân tích bài học kinh nghiệm phát triển điểm đến của các địa phương trong nước và quốc tế, tập trung sâu vào thành phố Gold Coast (tiểu bang Queensland, Úc):
- Về quy mô và thực trạng Gold Coast: Diện tích 414,3 km², dân số 638.090 người. Năm 2019, ngành du lịch Gold Coast đóng góp 5,9 tỷ USD, đón 14,2 triệu lượt khách (13,1 triệu khách nội địa và 1,1 triệu khách quốc tế), mức chi tiêu bình quân của khách quốc tế đạt 140 USD/đêm/khách, ngày lưu trú bình quân đạt khoảng 9 ngày. Năm 2020, do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, Gold Coast giảm hơn 5,5 triệu lượt khách và mất hơn 3 tỷ USD doanh thu; khách nội địa giảm 47,1% (còn 2,2 triệu lượt), khách quốc tế giảm 84% (còn 173.000 lượt).
- Bài học rút ra cho Đà Nẵng: Lợi thế từ chính sách visa linh hoạt (chính sách thị thực du lịch nhập cảnh nhiều lần trong 3 năm của chính phủ Úc áp dụng cho các thị trường ít rủi ro di trú như Việt Nam, Thái Lan, Ấn Độ, Chile); mô hình cơ quan quản lý điểm đến chuyên trách Destination Gold Coast (DGC, thành lập từ năm 1975) đại diện cho 792 đơn vị kinh doanh du lịch, dịch vụ và vận hành 2 trung tâm thông tin hỗ trợ du khách.
Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HÌNH ẢNH ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ĐỐI VỚI KHÁCH DU LỊCH QUỐC TẾ
Chương 3 trình bày bức tranh toàn diện về du lịch Đà Nẵng giai đoạn 2013 – 2023:
- Sự phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật: Hệ thống cơ sở lưu trú tăng trưởng mạnh từ 58 cơ sở (1.948 phòng) vào năm 1997 lên khoảng 1.287 cơ sở với 46.767 phòng vào giai đoạn hiện nay. Doanh thu và lượng khách quốc tế phục hồi rõ rệt sau đại dịch COVID-19; riêng quý I/2024, thành phố đón khoảng 636.000 lượt khách quốc tế (tăng 21,6% so với cùng kỳ năm 2023).
- Kết quả khảo sát 301 du khách quốc tế: Đo lường nhận thức của du khách đối với 14 nhóm thuộc tính điểm đến. Nhóm thuộc tính về bãi biển, giờ nắng, cảnh quan thiên nhiên và an toàn cá nhân đạt điểm cảm nhận cao. Ngược lại, nhóm nhân tố về cuộc sống ban đêm, hoạt động giải trí và tiện nghi mua sắm còn thấp do thiếu các trung tâm thương mại cao cấp và các khu dịch vụ đêm tập trung.
- So sánh hình ảnh trước và sau chuyến đi: Có sự điều chỉnh nhận thức rõ nét của khách quốc tế; điểm đánh giá sau chuyến thăm thực tế đối với sự thân thiện của người dân và an toàn điểm đến cao hơn so với kỳ vọng ban đầu trước khi đến.
- Kết quả ước lượng mô hình hồi quy OLS: Mô hình lượng hóa mức độ tác động của từng nhân tố thuộc tính và biến nhân khẩu học đến nhận thức hình ảnh điểm đến tổng thể. Kết quả thực nghiệm chỉ ra rằng biến trình độ học vấn của du khách không có tác động mang ý nghĩa thống kê đến nhận thức hình ảnh điểm đến Đà Nẵng. Điều này phản ánh nhận thức về điểm đến của du khách có tính đồng nhất tương đối giữa các nhóm học vấn khác nhau.
- Đánh giá hạn chế: Tình trạng xây dựng khách sạn cao tầng ven biển làm suy giảm không gian cảnh quan; nguy cơ xói mòn bản sắc văn hóa địa phương do áp lực quá tải khách tại một số thời điểm; thiếu sản phẩm liên kết vùng đồng bộ.
Chương 4: QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HÌNH ẢNH ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ĐỐI VỚI KHÁCH DU LỊCH QUỐC TẾ TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Trên cơ sở phân tích bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và các hiệp định thương mại tự do (FTA), Chương 4 xây dựng ma trận SWOT để định hình các chiến lược phát triển:
- Điểm mạnh (S): Tài nguyên tự nhiên phong phú, hạ tầng giao thông hiện đại (cảng biển, sân bay quốc tế), môi trường xã hội ổn định, danh tiếng tổ chức sự kiện quốc tế.
- Điểm yếu (W): Thiếu trung tâm mua sắm và giải trí về đêm chất lượng cao, sản phẩm du lịch cộng đồng chưa hoàn thiện, nguồn nhân lực du lịch còn yếu về ngoại ngữ và kỹ năng chuyên nghiệp.
- Cơ hội (O): Xu hướng mở rộng giao lưu kinh tế quốc tế, làn sóng phục hồi du lịch toàn cầu, định hướng chiến lược từ Nghị quyết 43-NQ/TW của Bộ Chính trị.
- Thách thức (T): Cạnh tranh điểm đến gia tăng từ các tỉnh duyên hải miền Trung lân cận, biến đổi khí hậu, nguy cơ mất cân bằng môi trường ven biển.
Luận án xác lập 4 nhóm giải pháp chủ yếu:
- Nhóm giải pháp về tài nguyên và sản phẩm: Đa dạng hóa sản phẩm du lịch văn hóa, lịch sử và sinh thái; phát triển kinh tế đêm gắn với các khu phố đi bộ, dịch vụ giải trí có quy hoạch; bảo tồn không gian biển và cảnh quan bán đảo Sơn Trà.
- Nhóm giải pháp về hạ tầng và cơ sở vật chất: Thu hút đầu tư các tổ hợp mua sắm miễn thuế, trung tâm thương mại cao cấp; nâng cao năng lực tiếp cận vận tải và hệ thống trung tâm hỗ trợ du khách (Danang Visitor Center).
- Nhóm giải pháp về nguồn nhân lực và quản lý điểm đến: Chuẩn hóa dịch vụ không phân biệt tầng lớp học vấn du khách để tối ưu hóa chi phí vận hành; đào tạo chuyên sâu ngoại ngữ và kỹ năng phục vụ cho lao động du lịch; duy trì trật tự an ninh xã hội và xử lý nghiêm nạn chèo kéo khách.
- Nhóm giải pháp về xúc tiến và liên kết vùng: Tăng cường truyền thông số và marketing điện tử; liên kết sản phẩm du lịch chuỗi với tỉnh Thừa Thiên Huế và tỉnh Quảng Nam nhằm kéo dài thời gian lưu trú bình quân của khách quốc tế.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận về phát triển hình ảnh điểm đến du lịch tại một địa phương cấp tỉnh/thành phố trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
- Xây dựng thành công khung phân tích gồm 14 nhân tố ảnh hưởng đặc thù phản ánh đầy đủ cả hai khía cạnh tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn của một đô thị du lịch ven biển.
- Đóng góp luận cứ khoa học về phương pháp luận khi kết hợp phân tích chuỗi thời gian vĩ mô với mô hình hồi quy kinh tế lượng OLS tích hợp các biến nhân khẩu học khách quan, thay vì chỉ sử dụng đơn lẻ mô hình cấu trúc tuyến tính SEM.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Cung cấp tập dữ liệu điều tra thực nghiệm gồm 301 khách du lịch quốc tế tại Đà Nẵng đầu năm 2024, phản ánh kịp thời sự thay đổi nhận thức du lịch sau đại dịch COVID-19.
- Định lượng sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hình ảnh điểm đến trước và sau chuyến đi của du khách quốc tế đối với Đà Nẵng.
- Phát hiện thực nghiệm quan trọng: biến trình độ học vấn của du khách không ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến nhận thức hình ảnh điểm đến Đà Nẵng. Phát hiện này mang giá trị ứng dụng cao cho các nhà quản lý và doanh nghiệp lữ hành, cho thấy khả năng tiêu chuẩn hóa phần lớn quy trình dịch vụ du lịch mà không cần phân mảnh tốn kém theo phân khúc học vấn của khách quốc tế.
- Đề xuất hệ thống giải pháp gắn kết với phân tích SWOT và chiến lược phát triển thành phố Đà Nẵng theo Nghị quyết số 43-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Về phạm vi không gian: Nghiên cứu tập trung chủ yếu trong phạm vi địa giới hành chính thành phố Đà Nẵng, chưa mở rộng điều tra so sánh định lượng trực tiếp với các điểm đến đối thủ cạnh tranh lân cận trong cùng vùng kinh tế trọng điểm miền Trung như Thừa Thiên Huế hay Quảng Nam.
- Về thời gian thu thập dữ liệu: Dữ liệu điều tra sơ cấp 301 khách quốc tế được thực hiện tập trung vào 2 tháng đầu năm 2024 (trùng dịp Tết Dương lịch và Tết Nguyên đán), có thể chịu sự chi phối nhất định bởi yếu tố mùa vụ của dòng khách quốc tế.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng khảo sát định lượng ở nhiều thời điểm khác nhau trong năm để kiểm soát triệt để biến động mùa vụ.
- Thiết kế mô hình nghiên cứu so sánh liên vùng đối chiếu mức độ nhận thức hình ảnh điểm đến giữa Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế và Hội An (Quảng Nam).
- Nghiên cứu sâu hơn mối quan hệ nhân quả giữa nhận thức hình ảnh điểm đến với lòng trung thành thương hiệu và mức chi tiêu thực tế của các thị trường khách quốc tế trọng điểm.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các đối tượng:
- Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch: Sở Du lịch thành phố Đà Nẵng, Trung tâm Xúc tiến Du lịch Đà Nẵng và các cơ quan quản lý tại Thừa Thiên Huế, Quảng Nam có thể khai thác kết quả phân tích SWOT và các nhóm giải pháp xúc tiến, định vị thương hiệu để hoạch định chính sách du lịch địa phương.
- Doanh nghiệp lữ hành, lưu trú: Cung cấp thông tin thị trường chi tiết về thị hiếu, cảm nhận và mức độ hài lòng của khách quốc tế; căn cứ để doanh nghiệp thiết kế sản phẩm du lịch ban đêm, dịch vụ biển và tiêu chuẩn hóa chất lượng phục vụ.
- Giới học thuật, giảng viên và nghiên cứu sinh: Nguồn tài liệu tham khảo cho chuyên ngành Kinh tế Phát triển, Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành về quy trình áp dụng công thức chọn mẫu Yamane (1967), thiết kế thang đo nhận thức 14 nhân tố và ứng dụng mô hình hồi quy OLS trong kinh tế du lịch.
Câu hỏi thường gặp
-
Luận án xác định quy mô mẫu khảo sát thực nghiệm du khách quốc tế là bao nhiêu và căn cứ vào công thức nào?
Quy mô mẫu điều tra chính thức của luận án là 301 khách du lịch quốc tế tại Đà Nẵng. Cỡ mẫu này được xác định dựa trên công thức tính cỡ mẫu cá thể xác định của Yamane (1967) với quy mô tổng thể lượng khách quốc tế đến Đà Nẵng quý I/2024 là 636.000 lượt, mức độ tin cậy được lựa chọn là 90% (tương ứng giá trị Z-score $Z = 1,645$), tỷ lệ ước tính của biến số $p = 0,5$ và sai số cho phép $E = 0,05$.
-
Vì sao luận án lựa chọn phương pháp hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS) thay vì mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM)?
Luận án lựa chọn phương pháp hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS) vì phương pháp này cho phép đưa các biến nhân khẩu học khách quan của du khách (giới tính, quốc gia xuất xứ, tình trạng nghề nghiệp, trình độ học vấn) vào mô hình để giải thích nhận thức về điểm đến. Trong khi đó, mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) thông thường chỉ tập trung đánh giá mối quan hệ giữa các biến số nhận thức cảm tính thuần túy qua thang đo Likert.
-
Biến nhân khẩu học nào được mô hình hồi quy chỉ ra là không có ảnh hưởng mang ý nghĩa thống kê đến nhận thức của du khách quốc tế về Đà Nẵng?
Kết quả ước lượng mô hình hồi quy OLS chỉ ra rằng biến trình độ học vấn không ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến nhận thức của khách du lịch quốc tế về hình ảnh điểm đến du lịch thành phố Đà Nẵng. Kết quả này gợi mở rằng các nhà quản lý và doanh nghiệp có thể tiêu chuẩn hóa phần lớn quy trình dịch vụ mà không cần phân chia phức tạp theo phân khúc học vấn của khách hàng.
-
Luận án đã rút ra những bài học kinh nghiệm cụ thể nào từ trường hợp thành phố Gold Coast (Úc)?
Luận án rút ra hai bài học thực tiễn then chốt từ Gold Coast: (1) tận dụng tác động lan tỏa từ chính sách visa linh hoạt (chính phủ Úc áp dụng thị thực du lịch nhập cảnh nhiều lần trong 3 năm cho các quốc gia ít rủi ro di trú như Việt Nam, Thái Lan, Ấn Độ, Chile); (2) thiết lập tổ chức quản lý điểm đến chuyên trách Destination Gold Coast (DGC) hoạt động từ năm 1975, đại diện cho 792 đơn vị du lịch và quản lý hệ thống trung tâm thông tin hỗ trợ trực tiếp cho du khách.
-
Những hạn chế lớn nhất trong hình ảnh điểm đến du lịch Đà Nẵng đối với khách quốc tế được chỉ ra là gì?
Các hạn chế chính gồm: sản phẩm du lịch chưa thật sự đa dạng; thiếu hụt các trung tâm mua sắm tập trung và dịch vụ vui chơi giải trí về đêm; nguy cơ phát triển cơ sở lưu trú cao tầng ven biển lấn át cảnh quan thiên nhiên và không gian biển; sự cạnh tranh gay gắt từ các điểm đến lân cận khiến Đà Nẵng đôi lúc bị xem như trạm trung chuyển khách.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Thái Hà là công trình nghiên cứu chuyên khảo về phát triển hình ảnh điểm đến du lịch thành phố Đà Nẵng đối với khách du lịch quốc tế dưới góc độ chuyên ngành Kinh tế Phát triển. Luận án đã xây dựng khung lý thuyết gồm 14 nhân tố ảnh hưởng, tiến hành điều tra sơ cấp 301 khách du lịch quốc tế và ứng dụng mô hình hồi quy OLS để lượng hóa các tác động nhận thức trước và sau chuyến đi. Các phát hiện thực nghiệm về tính đồng nhất trong nhận thức theo học vấn cùng bài học quản trị điểm đến quốc tế từ Gold Coast cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn cho chính quyền thành phố Đà Nẵng trong việc định vị thương hiệu du lịch. Hệ thống định hướng và giải pháp đề xuất bám sát tinh thần Nghị quyết số 43-NQ/TW của Bộ Chính trị, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững ngành kinh tế du lịch địa phương trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng.