Chương 1 sẽ nghiên cứu ñể ñưa ra cơ sở lý luận về phát triển hệ thống TTTD ngân hàng và trả lời những câu hỏi này. Thông tin tín dụng ngân hàng 1. Hoạt ñộng tín dụng của NHTM và nhu cầu TTTD Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính giữa người ñi vay và người cho vay, có trách nhiệm trả lãi cho người gửi tiền và ñược quyền sử dụng số tiền ñó trong thời hạn thoả thuận ñể cho vay thu lợi nhuận. Ngày nay, hoạt ñộng dịch vụ của NHTM ngày càng mở rộng với khoảng hơn 2000 dịch vụ, chủ yếu theo các nhóm như: trung gian giữa người ñầu tư và người cần 2 vay vốn trên thị trường; trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện tín dụng, tiền tệ, thực hiện thanh toán hộ khách hàng, sử dụng ñồng tiền tín dụng ghi sổ.; dịch vụ tài chính và các dịch vụ khác như mua, bán cổ phiếu, trái phiếu, thanh toán lãi trái phiếu, lợi tức cổ phần, dịch vụ hối ñoái, tư vấn, cho thuê két.
NHTM tham gia tích cực trên thị trường tài chính nhằm thoả mãn nhu cầu về vốn, thông qua vai trò trung gian ñó ñể tìm kiếm lợi nhuận cho mình, ñây là một kênh rất quan trọng ñể thu hút nguồn vốn nhàn rỗi phục vụ ñầu tư phát triển kinh tế. Nhưng hoạt ñộng tín dụng của NHTM luôn tiềm ẩn rủi ro. Có thể coi rủi ro ngân hàng là những biến cố không mong ñợi xảy ra, gây mất mát thiệt hại tài sản, thu nhập của ngân hàng. Trong hoạt ñộng ngân hàng có nhiều loại rủi ro, nhưng giới hạn nghiên cứu chúng ta chỉ xem xem xét rủi ro tín dụng (rủi ro không thu hồi ñược các khoản vay) bao gồm tất cả các khoản cho vay của ngân hàng, ñến kỳ hạn khách hàng không trả nợ cho ngân hàng.
Nhận thức và ñánh giá ñúng ñắn về các rủi ro ngân hàng là nhiệm vụ quan trọng của NHTM. Nếu hiểu rõ rủi ro ta có thể chấp nhận rủi ro một cách có ý thức và có kế hoạch, biện pháp tích cực ñể ngăn ngừa rủi ro. Thực tiễn cho thấy rủi ro trong kinh doanh tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường luôn luôn là vấn ñề bức xúc, nhậy cảm. Nếu không có biện pháp ñể ngăn ngừa, hạn chế sẽ dẫn ñến tình trạng một ngân hàng nào ñó thiếu khả năng thanh toán, có nguy cơ hoặc thực sự ñi ñến phá sản.
Tình huống ấy dễ gây tâm lý hoảng loạn, mọi người ñổ xô vào các ngân hàng làm sao rút ñược tiền gửi của mình thật nhanh ñể tránh bị tổn thất. Tình trạng này dễ xảy ra theo kiểu phản ứng dây chuyền, gây ñổ vỡ hệ thống. Lịch sử hoạt ñộng ngân hàng trên thế giới ñã chứng kiến không ít các ngân hàng bị phá sản, hậu quả của nó không giới hạn trong phạm vi một quốc gia mà lan ra cả nhiều nước trong khu vực hay toàn cầu. Cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ tại châu Á năm 1997 ñã làm cho nhiều ngân hàng, tổ chức tài chính của các 3 nước trong khu vực ñã bị phá sản.
ðiển hình như Thái lan, Nhật bản, Indonesia, Philippin. nhiều ngân hàng nhỏ ñã phải sáp nhập hoặc ñược các ngân hàng lớn mua lại, nhiều công ty tài chính, môi giới chứng khoán ñã bị phá sản. Gần ñây nhất là những ñổ vỡ, phá sản kinh hoàng tại Mỹ năm 2001- 2002, ñiển hình là vụ phá sản Wordcom và tập ñoàn năng lượng Enron, với tổng tài sản nợ hơn 500 tỷ USD. Hoặc những vụ phá sản theo kiểu dây chuyền tại Hàn Quốc, Hồng Kông, Singapore năm 2002- 2003.
Nếu những tổn thất do rủi ro tín dụng gây ra nhỏ thì việc xử lý tương ñối dễ dàng. Nhưng khi tổn thất lớn, vượt quá khả năng xử lý của ngân hàng thì vấn ñề sẽ trở nên nghiêm trọng, gây hậu quả khó lường cho chính ngân hàng ñó, cho cả những ngân hàng và khách hàng khác có liên quan, ảnh hưởng tới quyền lợi người gửi tiền và cuối cùng, ảnh hưởng tới toàn bộ nền kinh tế, có thể là nguy cơ tiềm ẩn cho khủng hoảng kinh tế. Do ñó, vấn ñề hạn chế rủi ro trong hoạt ñộng ngân hàng là hết sức quan trọng, không ñơn thuần vì lợi ích của các ngân hàng mà còn vì lợi ích chung của toàn bộ nền kinh tế. Nguyên nhân gây ra rủi ro trong hoạt ñộng tín dụng của NHTM rất ña dạng, nhưng một trong những nguyên nhân ñáng kể là thiếu thông tin về khách hàng, hay thiếu TTTD ñể xem xét khi cấp tín dụng và giám sát khoản vay.
Về phía các khách hàng vay do vốn tự có thấp, kinh doanh chủ yếu dựa vào vốn vay ngân hàng, thiếu thông tin thị trường, ñối tác, bạn hàng và cũng phải kể ñến nguyên nhân người vay thiếu thiện chí trả nợ vay ngân hàng. Như vậy, nguyên nhân thiếu thông tin là rất ñáng chú ý, gồm thông tin về khách hàng vay và thông tin về môi trường kinh doanh mà khách hàng ñó hoạt ñộng. Nhu cầu TTTD ñối với hoạt ñộng tín dụng của NHTM Hoạt ñộng tín dụng của NHTM là cho vay với lòng tin khách hàng sẽ hoàn trả theo thoả thuận. Vì vậy, ñể cho vay ñảm bảo an toàn, NHTM phải nắm ñược ñầy ñủ các thông tin về khách hàng, gồm thông tin về tình hình tài chính, về tình trạng nợ nần, tài sản bảo ñảm, khả năng hoàn trả và các thông 4 tin cần thiết khác của khách hàng vay vốn.
Cụ thể nội dung TTTD cần có về khách hàng ñể NHTM xem xét, quyết ñịnh cho vay và giám sát khoản vay thường bao gồm: - Thông tin về hồ sơ pháp lý của khách hàng như tên khách hàng, ñịa chỉ, quyết ñịnh thành lập, ñăng ký kinh doanh, các chi nhánh hoặc ñơn vị trực thuộc, họ tên và trình ñộ người lãnh ñạo, nghề nghiệp kinh doanh, mặt hàng sản xuất, kinh doanh chủ yếu, thị trường tiêu thụ sản phẩm. - Thông tin về tình hình tài chính của khách hàng bao gồm tình hình vốn, kết quả sản xuất kinh doanh, lưu chuyển tiền tệ, qua ñó tổ chức cho vay có thể ñánh giá khả năng tài chính, hoạt ñộng và phát triển của khách hàng. - Thông tin về tình hình quan hệ tín dụng của khách hàng, bao gồm các khoản vay tại các tổ chức tín dụng, tổ chức khác, thời hạn trả của các khoản vay ñó, lịch sử quan hệ tín dụng của khách hàng ñối với các tổ chức tín dụng ñã cho vay (có sòng phẳng không? Có nợ quá hạn không?). - Thông tin về xếp loại tín dụng của khách hàng từ các cơ quan xếp loại bên ngoài và kết quả xếp loại nội bộ của NHTM.
- Thông tin liên quan ñến dự án xin vay của khách hàng, ngân hàng cần xem xét khả năng trả nợ của khách hàng từ việc thực hiện dự án; các thông tin khác liên quan ñến tính khả thi của dự án từ. - Thông tin về môi trường kinh doanh có liên quan ñến ngành nghề, lĩnh vực hoạt ñộng của khách hàng vay vốn, thông tin kinh tế, thị trường, xu thế phát triển, tiềm năng của ngành. Như vậy, trong hoạt ñộng tín dụng thì thông tin về khách hàng vay vốn của các NHTM là rất quan trọng, ñể ngăn ngừa rủi ro và góp phần ổn ñịnh hệ thống ngân hàng. ðể có thể cung cấp các thông tin ñó cho các NHTM một cách ñầy ñủ và có hiệu quả, cần phải có những cơ quan chuyên môn thu thập, xử lý và cung cấp TTTD.
Thông tin tín dụng ngân hàng 5 1. Tổng quan về thông tin Khái niệm thông tin (information) ñã xuất hiện từ lâu, mặc dù việc nghiên cứu, ứng dụng thông tin và hệ thống thông tin ñã có những bước phát triển như vũ bão, nhưng ñến nay vẫn chưa có một ñịnh nghĩa thống nhất về thông tin. Trong khoa học hiện ñại, có ba khái niệm tổng quát nhất: năng lượng, vật chất và thông tin. Hai khái niệm ñầu là hoàn toàn xác ñịnh, loài người ñã biết mối quan hệ giữa năng lượng và vật chất thông qua một hệ thức nổi tiếng của Einstein E = mc2.
Còn khái niệm và bản chất của thông tin thì vẫn ñang là một một câu hỏi với khoa học hiện ñại. ðã có rất nhiều nghiên cứu và ñưa ra nhiều khái niệm. Lê nin cho rằng “Thông tin là tính chất chỉ có ở vật chất ñược tổ chức cao, nó nảy sinh cùng với sự sống và ñặc trưng cho thế giới hữu cơ, xã hội loài người và kỹ thuật mà con người tích luỹ ñược trong quá trình quản lý” [04]. Một quan ñiểm khác thì cho rằng thông tin cũng như phản ánh, là một tính chất của ñối tượng vật chất, sống cũng như không sống.
Tiêu biểu cho nhóm này là GlouchKov, cho rằng “Thông tin theo cách hiểu tổng quát nhất là ñộ ño của tính không ñồng ñều trong phân bổ vật chất và năng lượng trong không gian và thời gian, ñộ ño của những thay ñổi ñi kèm mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ” [04]. Gần ñây, trong một số công trình nghiên cứu có liên quan ñến kinh tế tri thức, ñã ñưa ra một cách hiểu về thông tin theo nghĩa hẹp thông qua mô hình “tháp thông tin” [04] như sơ ñồ 1. Từ ñây, với mục ñích nghiên cứu về thông tin phục vụ quản lý kinh tế, chúng ta sẽ nghiên cứu và sử dụng khái niệm theo nghĩa hẹp như ñã nói trên “Thông tin là dữ liệu ñã ñược ghi lại, phân loại, tổ chức, liên kết hoặc diễn dịch bên trong một khuôn khổ thể hiện ý nghĩa. Dữ liệu bao gồm các sự kiện, vốn trở thành thông tin khi chúng ñược nhìn trong ngữ cảnh và ý nghĩa chuyển tải tới con người” [26].
Tuy nhiên, sự phân biệt này chỉ là tương ñối, 6 vì thông tin ñối với người này lại có thể là dữ liệu ñối với người khác và lại có thể là kiến thức của người khác nữa. Mức ñộ xử lý thông tin (nghĩa Thông rộng) minh Tri thức Thông tin (nghĩa hẹp) Dữ liệu Sơ ñồ 1.01 Mô hình tháp thông tin Tuy còn có những quan ñiểm khác nhau, nhưng các nhà khoa học ñã thống nhất công nhận 5 ñặc ñiểm chính của thông tin là: - Thông tin bao giờ cũng thuộc một hệ thống nhất ñịnh, và mỗi một hệ thống bao giờ cũng cần những thông tin và nguồn thông tin nhất ñịnh. Như vậy hệ thống và thông tin là một cặp phạm trù biện chứng. - Thông tin ñược biểu diễn, truyền và bảo quản lưu trữ trên những "vật mang tin" khác nhau.
Do ñó xuất hiện khái niệm "Tin ñược mang" và "Vật mang tin" là một cặp phạm trù biện chứng.