CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Rủi ro tín dụng khách hàng doanh nghiệp của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng gắn liền với hoạt động tín dụng, là hoạt động cơ bản của ngân hàng và đem lại nguồn thu chủ yếu của ngân hàng hiện nay, có thể gây tổn thất về tài chính, về kinh tế mà tác động trực tiếp là làm giảm lãi, giảm giá trị thị trường về vốn, trong trường hợp nghiêm trọng hơn có thể làm hoạt động kinh doanh của ngân hàng bị thua lỗ, thậm chí là phá sản ngân hàng. Rủi ro tín dụng luôn gắn liền với hoạt động tín dụng, đồng thời rất đa dạng, phức tạp, khó kiểm soát và gây ra những thiệt hại, thất thoát về vốn và doanh thu của ngân hàng.
Có nhiều khái niệm về rủi ro tín dụng được ghi nhận trong các tài liệu nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước, có thể dẫn ra như sau: Theo Joel Bessis (1988) đưa ra khái niệm về rủi ro tín dụng trong cuốn Quản trị rủi ro trong ngân hàng: “Rủi ro tín dụng là rủi ro quan trọng nhất trong ngân hàng. Đó là rủi ro đối tác sẽ vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Theo các quy định, rủi ro tín dụng chia thành một vài thành phần rủi ro tín dụng: rủi ro vỡ nợ; rủi ro giảm uy tín; rủi ro nguy cơ nguy cơ, tức là sự bất trắc về giá trị tương lai của khoản tiền có thể thua lỗ vào thời điểm vỡ nợ chưa biết; thua lỗ do vỡ nợ thường ít hơn lượng tiền phải trả bởi vì sự hồi phục nhờ đảm bảo hay thế chấp của bên thứ ba; rủi ro đối tác là hình thức rủi ro tín dụng cụ thể xuất phát từ phái sinh, có thể chuyển đổi từ đối tác này sang đối tác khác” Theo định nghĩa của Ủy ban Basel thuộc Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (2004): “Rủi ro tín dụng là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã thỏa thuận”. Quan điểm của Timmothy W.Koch (2012): “Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc vốn vay không được thanh toán hay thanh toán trễ hạn”.
11 Tại Điều 3, Thông tư số 11/2021/TT-NHNN ngày 30/7/2021 của NHNN nêu rõ: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là khả năng xảy ra tổn thất đối với nợ của tổ chức tín dụng, CN ngân hàng nước ngoài do khách hàng không có khả năng trả được một phần hoặc toàn bộ nợ của mình theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với tổ chức tín dụng, CN ngân hàng nước ngoài. Như vậy, đứng trên nhiều góc độ khác nhau để nhìn nhận thì rủi ro tín dụng có thể được diễn đạt dưới các hình thức khác nhau, song các khái niệm, các quan điểm đều tựu chung về bản chất của rủi ro tín dụng đó là: Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất, thiệt hại về kinh tế mà tổ chức tín dụng phải gánh chịu do khách hàng vay vốn không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả nợ gốc, lãi hoặc hoàn trả không đúng hạn. Đặc điểm rủi ro tín dụng khách hàng doanh nghiệp Xem xét những đặc điểm cơ bản của rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của NHTM có ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc xác định, đo lường, và đề ra những biện pháp để hạn chế và quản lý nó. Theo Đinh Xuân Hạng và Nguyễn Văn Lộc (2012), rủi ro tín dụng có 03 đặc điểm: - RRTD mang tính chất gián tiếp : Trong quan hệ tín dụng, ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng trong một thời gian nhất định, chính vì thế trong khoảng thời gian này ngân hàng thường không cập nhật kịp thời những khó khăn và vấn đề … mà khách hàng vay vốn đang gặp phải.
Do đó, có thể làm cho ngân hàng bị tổn thất về vốn vay do không thu được nợ vay hay ngân hàng gặp rủi ro về tín dụng. - RRTD có tính chất đa dạng và phức tạp : Đây là đặc điểm tất yếu của rủi ro tín dụng do đặc trưng của ngân hàng là trung gian tài chính, kinh doanh tiền tệ. Đặc điểm này được biểu hiện ở sự đa dạng phức tạp của nguyên nhân, hình thức và hậu quả của rủi ro tín dụng. Ngoài ra, đặc điểm này cũng là hệ quả của đặc điểm thứ nhất vì mối liên hệ gián tiếp với rủi ro tín dụng khiến sự đa dạng và phức tạp của rủi ro tín dụng đối với NHTM càng thể hiện rõ nét.
- RRTD có tính tất yếu nghĩa là luôn gắn liền với hoạt động tín dụng của NHTM: Thông tin bất cân xứng là nguyên nhân khiến các nhà kinh tế cũng như các 12 ngân hàng cho rằng kinh doanh ngân hàng thực chất là QLRR ở mức độ phù hợp và đạt được lợi nhuận tương ứng. Do không thể có được thông tin cân xứng về việc sử dụng vốn vay của khách hàng vay vốn, do đó với bất kỳ một khoản cho vay nào của ngân hàng cũng tiềm ẩn những rủi ro. Phân loại rủi ro tín dụng khách hàng doang nghiệp Theo Benton E. Gup và James W.
Kolari (2007), rủi ro tín dụng được chia thành hai nhóm là rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục tín dụng: - Rủi ro giao dịch: phát sinh do những bất cập trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, gồm 3 loại là rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo và rủi ro nghiệp vụ. + Rủi ro lựa chọn: là rủi ro xuất phát từ những hạn chế trong quá trình đánh giá và phân tích tín dụng khi những khoản vay có hiệu quả cao lại không được ngân hàng lựa chọn. + Rủi ro đảm bảo: xuất phát từ các điều khoản để bảo đảm cho quyền lợi của người cho vay như TSBĐ, chủ thể bảo đảm, các hình thức bảo đảm và giá trị khoản vay được cấp trên giá trị của TSBĐ. + Rủi ro nghiệp vụ: xuất phát từ hoạt động trong quá trình cho vay và sau cho vay.
- Rủi ro danh mục: xuất phát từ những hạn chế trong việc quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, bao gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. + Rủi ro nội tại: xuất phát từ các đặc trưng của mỗi người đi vay hoặc các ngành, lĩnh vực kinh tế. Rủi ro nội tại giải quyết sự nhạy cảm đối với những nhân tố lịch sử, dự đoán và cho vay làm nên đặc trưng của một ngành kinh doanh cụ thể. Yếu tố lịch sử giải quyết hiệu quả kinh doanh và sự ổn định trong quá khứ của ngành kinh doanh.
Yếu tố dự đoán tập trung vào những đặc điểm chịu tác động từ sự thay đổi và ảnh hướng tích cực hoặc tiêu cực đến hiệu quả kinh doanh trong tương lai. Yếu tố cho vay tập trung vào vào việc làm thế nào TSBĐ và các điều khoản trong hợp đồng vay của ngành nghề ảnh hưởng đến rủi ro nội tại. + Rủi ro tập trung: là loại rủi ro xuất phát từ việc ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng hoạt động trong cùng một lĩnh vực kinh tế, 13 cùng một khu vực địa lý nhất định hoặc cùng một loại hình cấp tín dụng có độ rủi ro giống nhau. Quản trị rủi ro tín dụng khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại 1.
Khái niệm Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng được phát triển từ khái niệm gốc về quản trị rủi ro “Quản trị rủi ro là một trong những nội dung quản lý của NHTM bao gồm: Nhận biết và đánh giá mức độ rủi ro, thực thi các biện pháp hạn chế khả năng xảy ra rủi ro và giảm thiểu tổn thất khi rủi ro tín dụng xảy ra” (Peter S. Theo Ủy ban Basel (2000): “Quản trị rủi ro là một quá trình liên tục, cần được thực hiện ở mọi cấp độ của một tổ chức tài chính và là yêu cầu bắt buộc để các tổ chức tài chính có thể đạt được các mục tiêu đềra và duy trì khả năng tồn tại và sự minh bạch về tài chính”. Theo NHNN tại Thông tu số 13/2018/TT-NHNN ngày 18/05/2018 quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ của NHTM, CN Ngân hàng Nước ngoài thì “ Quản lý rủi ro là việc nhận dạng, đo lường, theo dõi và kiểm soát rủi ro trong hoạt động của NHTM” Quản trị RRTD được hiểu là quá trình nhận dạng, phân tích nhân tố rủi ro, đo lường mức độ rủi ro, trên cơ sở đó lựa chọn triển khai các biện pháp và quản lý các hoạt động tín dụng nhằm hạn chế và loại trừ rủi ro trong quá trình cấp tín dụng. Theo Hồ Diệu (2002): "Quản trị RRTD là quá trình xem xét, xác định các nguy cơ tiềm ẩn và khả năng xảy ra nguy cơ từ các hoạt động liên quan đến tín dụng, từ đó có những hành động thích hợp để hạn chế các rủi ro đó ở mức thấp nhất các rủi ro và tìm cách quản lý, hạn chế các rủi ro đó".
Theo Nguyễn Minh Kiều (2011) “Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình xây dựng và thực hiện các chính sách công cụ nhằm nhận diện, ngăn chặn, giảm thiểu rủi ro tín dụng và xử lý hậu quả khi xảy ra rủi ro” Theo Bùi Diệu Anh (2013): “Quản trị rủi ro tín dụng là dự kiến, ngăn ngừa và đề xuất biện pháp kiểm soát các rủi ro nhằm loại bỏ, giảm nhẹ hoặc chuyển 14 chúng sang một tác nhân khác tạo điều kiện sử dụng tối ưu nguồn lực của doanh nghiệp”. Như vậy, quản trị RRTD trong hoạt động NHTM có thể hiểu là quá trình ngân hàng tác động đến hoạt động tín dụng thông qua bộ máy và công cụ quản lý để nhận diện, phòng ngừa, cảnh báo, đưa ra các biện pháp nhằm hạn chế đến mức tối đa việc các nguy cơ tiềm ẩn và khả năng xảy ra các nguy cơ đó đối với các khoản cấp tín dụng của ngân hàng.