Phần mở đầu B. Phần nội dung và kết quả nghiên cứu Chƣơng 1: Tổng quan về hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo tại ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Kon Tum Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo tại ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Kon Tum C. Phần kết luận và hƣớng nghiên cứu tiếp theo 123doc 1 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO 1.
Cơ sở lý luận chung về đói nghèo 1. Khái niệm nghèo đói Hiện nay, có rất nhiều khái niệm khác nhau về nghèo tùy theo quan điểm, mục đích nghiên cứu của mỗi tác giả và mục tiêu nhằm giải quyết vấn đề đói nghèo, dựa trên bản chất mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời, con ngƣời với xã hội, quan điểm của Chính phủ, của các định chế quốc tế nhƣ Ngân hàng thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế hay Liên hiệp quốc về các khía cạnh khác nhau của đói nghèo. “Khái niệm nghèo đƣợc biến đổi theo thời gian. Trƣớc đây, nghèo vẫn thƣờng đƣợc xem là chỉ liên quan đến thu nhập, ngày nay nó đƣợc nhìn nhận nhƣ một khái niệm đa cấp bắt nguồn và gắn chặt với chính trị, địa lý, lịch sử, văn hóa và các đặc điểm xã hội.
Ở những nƣớc đang phát triển, nghèo rất phổ biến và đƣợc biểu hiện ở những vấn đề nhƣ đói, thiếu đất và nguồn sinh kế, chính sách tái phân bổ không hiệu quả, thất nghiệp, mù chữ, dịch bệnh, thiếu dịch vụ y tế và nƣớc sạch an toàn. Ở những nƣớc phát triển, nghèo đƣợc thể hiện dƣới dạng loại trừ khỏi xã hội, thất nghiệp gia tăng và lƣơng thấp” (Wolfgang Benedek, 2006, trang 13) Liên Hiệp Quốc đã định nghĩa nghèo nhƣ sau: “Đặc trƣng bởi tình trạng thiếu thốn nghiêm trọng các nhu cầu cơ bản của con ngƣời, bao gồm thực phẩm, nƣớc uống an toàn, công trình vệ sinh, y tế, chỗ ở, giáo dục và thông tin. Nó phụ thuộc không chỉ vào thu nhập mà còn tiếp cận với các dịch vụ” (UN, 1995, trang 57). Để phục vụ cho công tác nghiên cứu và thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo của Việt Nam, theo Chiến lƣợc xóa đói giảm nghèo năm 20021 Việt Nam thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo tại Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á – Thái Bình Dƣơng do ESCAP2 tổ chức tại Băng Cốc – Thái Lan tháng 9/1993: Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục, tập quán của địa phương”.(Phùng Đức Tùng, 2000; Nguyễn Thị Hoa, 2009; Giang Thanh Long, 2009) 1 Chiến lƣợc toàn diện về tăng trƣởng và xóa đói giảm nghèo đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ Việt Nam phê duyệt tại Văn bản số 2685/VPCP-QHQT, ngày 21 tháng 6 năm 2002 2 Economic and Social Commission for Asia and Pacific: Ủy ban kinh tế xã hội Châu Á và Thái Bình Dƣơng 123doc 2 Đói là tình trạng của một bộ phận dân cƣ nghèo có mức sống dƣới mức tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống.
Tình trạng con ngƣời ăn không đủ no, không đủ năng lƣợng tối thiểu cần thiết để duy trì sự sống hàng ngày do đó không đủ sức để lao động và tái sản xuất sức lao động (Nguyễn Thị Hoa, 2009). Hộ đói: “là hộ cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, con cái thất học, ốm đau không có tiền chữa trị, nhà ở rách nát”3. Đói nghèo là tổng hợp khái niệm đói và khái niệm nghèo: Đói và nghèo thƣờng gắn chặt với nhau, nhƣng mức độ gay gắt khác nhau. Đói có mức độ gay gắt cao hơn, cần thiết phải xóa và có khả năng phải xóa.
Còn nghèo, mức độ thấp hơn và khó xóa hơn, chỉ có thể xóa dần nghèo tuyệt đối, còn nghèo tƣơng đối chỉ có thể giảm dần. Vì vậy, để giải quyết đói nghèo, ta thƣờng dùng cụm từ “Xóa đói giảm nghèo”. Chuẩn nghèo Tính đến nay trên thế giới có hai phƣơng pháp cơ bản để xác định chuẩn nghèo, đó là phƣơng pháp dựa trên nhu cầu chi tiêu của con ngƣời để bảo đảm mức sống tối thiểu của một con ngƣời và phƣơng pháp dựa vào thu nhập để bảo đảm mức sống tối thiểu. Tuy nhiên, chuẩn nghèo không phải là một đại lƣợng cố định mà nó luôn biến động theo thời gian và không gian, tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của từng quốc gia.
Từ năm 1985, Ngân hàng thế giới xem thu nhập 1USD/ngày/ngƣời để thỏa mãn nhu cầu sống tối thiểu nhƣ là chuẩn tổng quát cho nghèo đói toàn cầu (WB, 2004). Khi đánh giá theo sức mua tƣơng đƣơng (PPP)4 của đồng tiền nội địa so với đô la Mỹ, chuẩn nghèo 1993 có hiệu lực từ Chƣơng trình So sánh quốc tế, chuẩn nghèo quốc tế đã đƣợc đánh giá lại. Áp dụng nguyên tắc tƣơng tự và sử dụng các thiết lập ban đầu của chuẩn nghèo quốc gia, các chuẩn nghèo tƣơng đƣơng nhƣ 1993, PPP xác định đƣợc là 1,08 $/ngày/ngƣời (hoặc 32,74$/một tháng/ngƣời) theo giá cả năm 1993. Chuẩn này là trung bình của 10 chuẩn nghèo đói thấp nhất trong cùng một tập hợp của các nƣớc sử dụng (Ravallion, Datt, and Van de 3 Chƣơng trình quốc gia xóa đói giảm nghèo giai đoạn 1998-2000 đƣợc Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 133/1998/QĐ-TTg ngày 23 tháng 7 năm 1998.
4 PPP (Purchasing Power parity) là một lý thuyết kinh tế và kỹ thuật đƣợc sử dụng để xác định tƣơng đối giá trị của đồng tiền, ƣớc tính số lƣợng điều chỉnh cần thiết về tỷ giá hối đoái giữa các nƣớc để trao đổi tƣơng đƣơng (hoặc ngang) mỗi tiền tệ của sức mua. Số tiền cần thiết để mua các hàng hóa và dịch vụ ở hai nƣớc, và sử dụng để tính toán một tỷ giá hối đoái ngầm nƣớc ngoài. Một khoản tiền nhƣ vậy, có sức mua tƣơng tự ở các quốc gia khác. Kết quả đánh giá lại này lần đầu tiên đƣợc công bố trong Báo cáo Phát triển thế giới: Tấn công nghèo đói (WB, 2000) và chỉ số Phát triển Thế giới (2001).
Những chỉ số Phát triển Thế giới bổ sung năm 2008 đã cung cấp các ƣớc tính chuẩn nghèo đói toàn cầu, một đánh giá đầu tiên của Ngân hàng Thế giới là “1 đô la/ngày/ngƣời” chuẩn nghèo từ năm 1999. Chuẩn nghèo quốc tế đã đƣợc đánh giá lại là 1,25/ngày/ngƣời, bằng cách sử dụng dữ liệu mới trên sức mua tƣơng đƣơng (PPP), đƣợc sử dụng bởi Chƣơng trình So sánh Quốc tế, và thiết lập một cuộc điều tra5 mở rộng về thu nhập và chi tiêu của hộ gia đình. Các đo lƣờng mới về mức độ và chiều sâu của đói nghèo đƣợc khảo sát ở 115 quốc gia phát triển, cùng với các phép đo về nghèo dựa trên chuẩn nghèo quốc gia của họ. Chuẩn nghèo 1,25 $/ngày thực hiện năm 2005 thay thế cho chuẩn nghèo 1,08$/ngày theo giá năm 1993.
Thƣờng đƣợc mô tả nhƣ “1 đô la/ngày/ngƣời” hay “1,08 đôla/ngày/ngƣời” đã đƣợc chấp nhận rộng rãi nhƣ là tiêu chuẩn quốc tế đối với nghèo tuyệt đối và đƣợc thành lập đầu tiên của các Mục tiêu Phát triển Thiên nên kỷ6. Mục tiêu này kêu gọi xóa bỏ nghèo cùng cực và đặt ra một mục tiêu giảm một nửa, giữa năm 1990 và 2015, tỷ lệ ngƣời có thu nhập dƣới 1 USD một ngày. Chuẩn nghèo mới duy trì cùng một tiêu chuẩn nghèo tuyệt đối điển hình của các nƣớc nghèo nhất trên thế giới, những cập nhật sử dụng mới nhất thông tin về chi phí sinh hoạt ở các nƣớc đang phát triển. Tuy nhiên, hầu hết những ngƣời đã thoát khỏi đói nghèo cùng cực vẫn còn rất nghèo theo các tiêu chuẩn của nền kinh tế có thu nhập trung bình.
Chuẩn nghèo trung bình cho các nƣớc đang phát triển trong năm 2005 là 2,00 $/ngày/ngƣời. Các nƣớc Châu Âu là 4,00$/ngày/ngƣời, các nƣớc công nghiệp phát triển là 14,4$/ngày/ngƣời (Báo cáo Chính phủ về chuẩn nghèo giai đoạn 2006-2010, 2005). Tín dụng đối với hộ nghèo Tín dụng đối với hộ nghèo là các khoản tín dụng chỉ dành riêng cho những hộ nghèo, có sức lao động nhƣng thiếu vốn để phát triển sản xuất trong một thời gian 5 Để chuyển đổi giá trị danh nghĩa của chuẩn nghèo đƣợc đo bằng tiền tệ khác nhau cho một đơn vị phổ biến trong tính toán, Ngân hàng Thế giới sử dụng sức mua tƣơng đƣơng (PPPs) từ năm 2005 của Chƣơng trình So sánh Quốc tế, đã khảo sát giá ở 146 quốc gia. 6 Còn gọi là Mục tiêu Thiên niên kỷ là 8 mục tiêu đƣợc 189 quốc gia thành viên Liên hợp quốc nhất trí phấn đấu đạt đƣợc vào năm 2015.
Những mục tiêu này (gọi tắt là MDGs từ tiếng anh: Millennium Development Goals) đƣợc ghi trong bản Tuyên ngôn Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc tại Hội nghị thƣợng đỉnh Thiên niên kỷ diễn ra từ ngày 6 đến ngày 8 tháng 9 năm 2000 tại trụ sở Đại hội đồng Liên hợp quốc ở New York, Mỹ. 123doc 4 nhất định phải hoàn trả số tiền gốc và lãi, còn đƣợc gọi là tín dụng vi mô (Đỗ Ngọc Tân, 2012). Khái niệm về tín dụng vi mô Tín dụng vi mô là những khoản vay nhỏ, rất nhỏ do các ngân hàng hoặc một tổ chức nào đó cung cấp cho ngƣời nghèo. Mục đích là giúp họ có thể tham gia hoạt động sản xuất hay tiến hành kinh doanh.
Mở rộng ra là toàn bộ những hình thức tín dụng ƣu đãi cho ngƣời nghèo. Tín dụng vi mô thƣờng dùng cho cá nhân vay và hộ gia đình vay không cần tài sản thế chấp hoặc thông qua việc cho vay theo nhóm. Ngƣời nghèo cũng nhƣ tất cả mọi ngƣời cần vốn vay để sản xuất, tích lũy tài sản, bình ổn tiêu dùng, và tự bảo vệ mình trƣớc các rủi ro dựa trên nhóm vay. Chính vì vậy, tín dụng vi mô đặc biệt quan trọng trong công tác xoá đói giảm nghèo (Nguyễn Thị Hải Yến, 2008).Ledgerwood (1991), “Tín dụng dành cho ngƣời nghèo là một phƣơng pháp phát triển kinh tế nhằm mang lại lợi ích cho dân cƣ có thu nhập thấp.
Tổ chức tài chính vi mô Một cách đơn giản nhất, tổ chức tài chính vi mô là tổ chức cung cấp vốn vay nhỏ cho những ngƣời có thu nhập thấp. Đa số các tổ chức cấp tín dụng vi mô là tổ chức tài chính. Tuy nhiên, nhiều tổ chức phi chính phủ cũng cung cấp các khoản tín dụng vi mô tuy nhiên bản thân họ không phải là tổ chức tài chính.