phần mở đầu, kết luận và phụ lục, kết cấu luận văn gồm 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1:Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về thu hồi nợ chƣơng trình tín dụng học sinh sinh viên Chƣơng 2: Phƣơng pháp luận và thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng thu hồi nợ chƣơng trình tín dụng học sinh sinh viên Chƣơng 4: Giải pháp thu hồi nợ chƣơng trình tín dụng học sinh sinh viên 3 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HỒI NỢ CHƢƠNG TRÌNH TÍN DỤNG HSSV 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Mô hình tín dụng vi mô với những khoản cho vay nhỏ thông qua các hình thức khác nhau tùy thuộc vào đặc trƣng từng khu vực đã đƣợc hình thành và phát triển từ lâu trên toàn thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng. Tại Việt Nam, với sự ủy thác của Chính phủ, NHCSXH đã áp dụng một cách linh hoạt mô hình tín dụng vi mô để chuyển tải nguồn vốn ƣu đãi tới ngƣời nghèo và các đối tƣợng chính sách thông qua các chƣơng trình cho vay khác nhau. Trong đó, chƣơng trình tín dụng HSSV có hoàn cảnh khó khăn là một trong những chƣơng trình chiếm tỷ trọng dƣ nợ tƣơng đối lớn và chỉ mới đƣợc triển khai áp dụng từ năm 2007.
Cho đến nay, các vấn đề về cho vay và thu hồi nợ vay HSSV vẫn đã và đang đƣợc quan tâm nghiên cứu để hoàn thiện hƣớng tới mục tiêu sử dụng nguồn vốn chính sách hiệu quả nhất. Đã có một vài công trình nghiên cứu cũng nhƣ các bài báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành khai thác và đƣa ra những kết quả nổi bật về tín dụng HSSV. Đề tài nghiên cứu “Nâng cao hiệu quả cho vay học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn tại Ngân hàng Chính sách xã hội” của tác giả Lê Thị Minh Hải (2013) nêu đƣợc vai trò của tín dụng đối với HSSV và có một số giải pháp để nâng cao hiệu hoạt động cho vay học sinh sinh viên. Năm 2014, tác giả Nguyễn Trung Hiếu với Luận văn thạc sĩ “Tăng cƣờng thu hồi nợ cho vay học sinh sinh viên tại Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam” đã có những đánh giá tổng quát về thực trạng công tác thu hồi nợ vay HSSV và đề xuất một số giải pháp tăng cƣờng thu hồi cho vay HSSV có hoàn cảnh khó khăn.
Ngoài ra, luận văn “Ngăn ngừa và hạn chế rủi ro trong tín dụng cho vay Học sinh sinh viên tại Ngân hàng Chính sách xã hội Chi nhánh tỉnh Nam Định” đã không chỉ đƣa ra những đánh giá quan trọng về rủi ro tín dụng HSSV, thực trạng hoạt động ngăn ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng HSSV mà còn trên cơ sở đó đƣa ra những giải pháp hƣớng tới nâng cao chất lƣợng cho vay và thu hồi nợ tín dụng HSSV, tạo nền tảng vững chắc để ngăn ngừa rủi ro tín dụng. 4 z Bên cạnh đó, có rất nhiều công trình nghiên cứu khác nhƣ đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Mô hình Ngân hàng Chính sách và các giải pháp tăng cƣờng hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Chính sách” của Nhóm nghiên cứu (2000) và Luận án Tiến sĩ Kinh tế “Giải pháp hoàn thiện mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội” của Hà Thị Hạnh (2004) đã phân tích cụ thể về vai trò của tín dụng đối với ngƣời nghèo và các đối tƣợng chính sách khác, trong đó có nghiên cứu khái quát về chƣơng trình cho vay HSSV; Luận văn Thạc sĩ “Tín dụng cho ngƣời nghèo ở Hà Nội” của Hoàng Liên Sơn (2008) cũng đã có những đánh giá về tín dụng hộ nghèo trên địa bàn Hà Nội và đƣa ra một số nhóm giải pháp để nâng cao hiệu quả tín dụng với hộ nghèo bao gồm cả những đối tƣợng có con em là HSSV đang đi học cần vay vốn ƣu đãi. Luận văn thạc sĩ “giải pháp quản trị cho vay dự án giải quyết việc làm của Ngân hàng Chính sách xã hội thành phố Hà Nội giai đoạn 2011-2015” của Lê Thanh Bình (2014) nêu bật lên đƣợc công tác quản trị cho vay các chƣơng trình tín dụng tại NHCSXH TP Hà Nội và dự án chƣơng trình giải quyết việc làm nói riêng, luận văn cũng đƣa ra một số giải pháp hoàn thiện công tác quản tri tại NHCSXH TP Hà Nội. Ngoài ra, đã có khá nhiều các bài báo, bài viết đăng tải trên các thời báo chuyên ngành và hệ thống đặc san của NHCSXH.
Năm 2013, tác giả Quang Cảnh với bài viết “Tín dụng HSSV: biến nỗi lo thành niềm vui” đăng tải trên thời báo ngân hàng đã có những phân tích sâu và cụ thể về ý nghĩa xã hội to lớn của chƣơng trình này đồng thời đề xuất giải pháp gián tiếp giúp tăng cƣờng chất lƣợng thu hồi nợ vay. Tác giả Việt Hải (2013) với bài báo “Chƣơng trình tín dụng học sinh, sinh viên: Sau 5 năm thực hiện” đăng tải trên đặc san của NHCSXH cũng đã nêu bật ý nghĩa xã hội của hoạt động cho vay HSSV, đƣa ra một số bài học kinh nghiệm rút ra trong suốt 5 năm thực hiện chƣơng trình từ Trung ƣơng đến địa phƣơng đồng thời cảnh báo những khó khăn mà NHCSXH sẽ phải đối mặt khi tiếp tục triển khai cho vay mới. Có thể thấy, những công trình, những bài viết, chuyên đề nói trên về tín dụng này đều có đặc điểm chung là đã có những nghiên cứu khái quát về hoạt động cho 5 z vay tại NHCSXH nói chung bao gồm tất cả các chƣơng trình tín dụng hoặc chỉ tập trung vào nghiên cứu riêng lẻ từng nhóm đối tƣợng, đánh giá hiệu quả cho vay các chƣơng trình tín dụng ƣu đãi nhƣ cho vay hộ nghèo, cho vay các đối tƣợng chính sách, cho vay giải quyết việc làm., hoặc nghiên cứu về tình hình thực hiện chƣơng trình tín dụng HSSV tại NHCSXH và các kết quả đạt đƣợc cũng nhƣ ý nghĩa của chƣơng trình đối với xã hội, chƣa có nhiều công trình đào sâu nghiên cứu riêng về mảng thu hồi nợ cho vay HSSV có hoàn cảnh khó khăn, đặc biệt là hoạt động thu hồi nợ tại NHCSXH TP Hà Nội. Vì thế, luận văn trên cơ sở kế thừa những công trình nghiên cứu đi trƣớc sẽ đi vào phân tích một cách tổng thể tình hình thu hồi nợ cho vay HSSV có hoàn cảnh khó khăn và đề xuất nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thu hồi nợ chƣơng trình tín dụng HSSV tại NHCSXH TP Hà Nội.
Tín dụng đối với HSSV có hoàn cảnh khó khăn 1. Khái niệm cho vay HSSV Theo lý thuyết kinh tế tiền tệ, cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Cho vay là một hoạt động thƣờng xuyên và chủ yếu của những tổ chức tín dụng, nghiệp vụ cho vay đem lại phần lớn lãi cho các tổ chức tín dụng. Cho vay thể hiện ba mặt cơ bản: - Có sự chuyển giao quyền sử dụng một lƣợng giá trị từ ngƣời này sang ngƣời khác.
- Sự chuyển giao này mang tính chất tạm thời. - Khi hoàn trả lại giá trị đã chuyển giao phải bao gồm cả vốn gốc lẫn lãi. Đối tƣợng cho vay rất đa dạng từ cá nhân, doanh nghiệp đến các tổ chức. Từ các quan điểm trên, khái niệm về cho vay HSSV đƣợc tổng kết lại nhƣ sau: Cho vay HSSV là loại hình cho vay đối với đối tƣợng đặc biệt là HSSV có hoàn cảnh khó khăn.
Cho vay HSSV là việc NHCSXH sử dụng các nguồn lực tài chính do 6 z Nhà nƣớc huy động để cho vay HSSV có hoàn cảnh khó khăn đang học Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp và học nghề vay nhằm hỗ trợ tiền học phí, mua sắm phƣơng tiện học tập và các chi phí khác phục vụ cho việc học tập tại trƣờng. Đặc trƣng cơ bản tín dụng đối với HSSV Tín dụng đối với HSSV không thể giống nhƣ cơ chế tín dụng thông thƣờng mà nó chứa đựng những yếu tố cơ bản sau: Một là, đây là tín dụng không vì mục tiêu lợi nhuận. Xuất phát từ mục tiêu của tín dụng chính sách là không vì mục tiêu lợi nhuận mà là góp phần thực hiện chƣơng trình mục tiêu xóa đói giảm nghèo, ổn định kinh tế - chính trị - xã hội, thể hiện nhƣ sau: - Về nguồn vốn: đƣợc Nhà nƣớc hỗ trợ một phần hoặc toàn bộ nguồn vốn hoạt động cho vay đối với HSSV. - Về tổ chức tín dụng thực hiện cho vay đối với HSSV: đƣợc Nhà nƣớc chỉ định hoặc do Nhà nƣớc thành lập.
- Về mục tiêu của cho vay đối với HSSV: Giúp HSSV đóng học phí và các chi phí liên quan đến học tập từ đó HSSV có điều kiện vƣơn lên trong học tập. Hai là, tín dụng theo hƣớng thƣơng mại nhƣng không phải là thƣơng mại thuần túy. Vì tín dụng đối với HSSV cũng cần tồn tại lâu dài và phát triển bền vững, điều đó chỉ có thể thực hiện đƣợc khi nó tuân theo tính quy luật vốn có của nó và có cơ chế để hƣớng tới tự chủ về nguồn vốn, bảo toàn vốn và phát triển đƣợc vốn. Tín dụng chỉ định và bao cấp nặng nề tự nó sẽ không tồn tại và phát triển đƣợc mà nó hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn vốn và tài trợ từ bên ngoài dẫn đến sẽ gặp khó khăn trong hoạt động.
Bao cấp tín dụng tự nó đã làm méo mó các cơ chế tín dụng nhƣ cho vay chỉ định, cho vay cần phải qua nhiều cấp xét duyệt, quyết định cho vay chủ yếu dựa vào chính quyền các cấp, sự luân chuyển vốn và huy động vốn là không thƣờng xuyên. 7 z Chính vì những lý do nhƣ trên mà tín dụng Ngân hàng đối với HSSV cũng phải theo hƣớng thƣơng mại nhƣng không phải là thƣơng mại thuần túy mà phải có lộ trình cho từng giai đoạn theo sự phát triển chung của xã hội. Ba là, ngƣời vay vốn không phải là ngƣời trực tiếp sử dụng vốn vay. Trong các chƣơng trình tín dụng thông thƣờng, ngƣời vay vốn sẽ là ngƣời trực tiếp điều hành nhận nợ và sử dụng vốn đã vay.