CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY DỰ ÁN ĐẦU TƯ BẰNG NGUỒN VỐN TÍN DỤNG ĐẦU TƯ 1. Tổng quan về dự án đầu tư và cho vay dự án đầu tư bằng nguồn vốn tín dụng đầu tư 1. Những vấn đề cơ bản về dự án đầu tư 1. Khái niệm Theo luật đầu tư năm 2005: “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hay vô hình để hình thành tài sản, bằng việc tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan” [1].
Hoạt động đầu tư thường đòi hỏi một lượng vốn lớn, thời gian đầu tư dài và việc phát huy kết quả đầu tư tương đối dài, phạm vi tác động của đầu tư cả trực tiếp lẫn gián tiếp tương đối rộng. Vì vậy, trước một hoạt động đầu tư chúng ta cần phải chuẩn bị một cách khoa học, đầy đủ và chính xác nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư. Việc chuẩn bị đó được thực hiện thông qua quá trình lập các dự án đầu tư. Vậy dự án đầu tư là gì? Dự án là một nỗ lực tạm thời nhằm tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ hay một kết quả nhất định.
Theo Nghị định 88/1999/NĐ-CP ngày 01/09/1999 v/v ban hành quy chế đấu thầu thì “dự án là tập hợp những đề xuất để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc, mục tiêu hoặc yêu cầu nào đó, dự án bao gồm dự án đầu tư và dự án không có tính chất đầu tư” [2]. Theo Luật đầu tư năm 2005 “Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định” [2] 1. Vai trò và ý nghĩa của dự án đầu tư + Đối với Chủ đầu tư: - DAĐT là căn cứ quan trọng nhất để nhà đầu tư quyết định có nên tiến hành đầu tư dự án hay không - DAĐT là công cụ để tìm đối tác trong và ngoài nước liên doanh bỏ vốn đầu tư dự án. 123doc 5 - DAĐT là phương tiện để chủ đầu tư thuyết phục các tổ chức tài chính tiền tệ trong và ngoài nước tài trợ hoặc cho vay vốn - DAĐT là cơ sở để xây dựng kế hoạch thực hiện đầu tư, theo dõi, đôn đốc và kiểm tra quá trình thực hiện dự án - DAĐT là căn cứ quan trọng để theo dõi đánh giá và có điều chỉnh kịp thời những tồn tại, vướng mắc trong quá trình thực hiện và khai thác công trình.
- DAĐT là căn cứ quan trọng để soạn thảo hợp đồng liên doanh cũng như để giải quyết các mối quan hệ tranh chấp giữa các đối tác trong quá trình thực hiện dự án. + Đối với nhà tài trợ (các ngân hàng) - DAĐT là căn cứ quan trọng để các ngân hàng xem xét tính khả thi của dự án, từ đó sẽ đưa ra quyết định có nên tài trợ cho dự án hay không và nếu tài trợ thì tài trợ đến mức độ nào để đảm bảo rủi ro ít nhất cho nhà tài trợ. + Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước: - DAĐT là tài liệu quan trọng để các cấp có thẩm quyền xét duyệt, cấp giấy phép đầu tư - DAĐT là căn cứ pháp lý để tòa án xem xét, giải quyết khi có sự tranh chấp giữa các bên tham gia đầu tư trong quá trình thực hiện dự án sau này. Tính khả thi của DAĐT Tính khả thi là một yêu cầu đặc biệt quan trọng của DAĐT.
Người lập dự án cũng như người thẩm định dự án đều phải quan tâm trước hết đến tính khả thi của dự án. Một DAĐT được gọi là khả thi nếu nó hội đủ các tính chất sau: + Tính hợp pháp: - Phải phù hợp với pháp luật. - Có đủ các căn cứ pháp lý: tư cách pháp nhân của các đối tác, giấy phép hành nghề, khả năng tài chính, sở trường kinh doanh, các thông tin khác liên quan đến các đối tác; các hợp đồng liên quan; các văn bản xác nhận về quy hoạch, đất đai, định giá tài sản góp vốn, giá cả áp dụng,… 123doc 6 + Tính hợp lý: - Phù hợp với đường lối, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, của các ngành kinh tế, vùng kinh tế cũng như của các địa phương. - Các giải pháp đầu tư đều được lựa chọn hợp lý về kỹ thuật cũng như về kinh tế.
- Các phương án lựa chọn phải phù hợp với các điều kiện cụ thể của dự án, phù hợp với truyền thống, tập quán của quốc gia, địa phương. - Nội dung, hình thức trình bày phải phù hợp với các quy định, hướng dẫn, chỉ dẫn của các cơ quan có trách nhiệm liên quan. + Tính hiện thực: - Mọi phương án, giải pháp được lựa chọn phải phù hợp với thực tế, có tính hiện thực, có khả năng thực hiện được trong điều kiện cụ thể của quốc gia. - Các giải pháp nêu ra trong dự án phải được cân nhắc kỹ lưỡng và không quá ảo tưởng.
+ Tính hiệu quả: - Trong dự án phải có các chỉ tiêu cụ thể chứng minh hiệu quả của dự án về mặt tài chính cũng như về mặt kinh tế xã hội. Tránh tình trạng phóng đại các chỉ tiêu về hiệu quả làm cho dự án mất tính trung thực. Những vấn đề về cho vay dự án đầu tư bằng nguồn vốn tín dụng đầu tư 1.1 Khái niệm - Tín dụng đầu tư (TDĐT) là một hình thức tín dụng nhằm thực hiện chính sách đầu tư phát triển của Nhà nước, thể hiện mối quan hệ vay - trả giữa Nhà nước với các pháp nhân và thể nhân hoạt động trong nền kinh tế, được Nhà nước cho vay với lãi suất ưu đãi cho từng đối tượng cụ thể nhằm thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) trong từng thời kỳ nhất định theo định hướng của Nhà nước. - Nguồn vốn TDĐT được huy động từ nhiều nguồn khác nhau thông qua nhiều hình thức khác nhau như: Vốn do Ngân sách nhà nước (NSNN) cấp, phát hành trái phiếu, Chính phủ bảo lãnh vay vốn, … Việc huy động vốn chủ yếu tập trung vào các 123doc 7 nguồn vốn lớn và dài hạn trên nguyên tắc tận dụng tối đa các nguồn vốn rẻ, lãi suất (LS) thấp để giảm LS cho vay nhằm hỗ trợ hiệu quả hơn đối với các dự án phát triển, các chương trình mục tiêu của Nhà nước.
- Chính sách TDĐT bao gồm các hình thức: Cho vay đầu tư (CVĐT), hỗ trợ sau đầu tư (HTSĐT).2 Đặc điểm của TDĐT - TDĐT chỉ tập trung cho vay vào các dự án phát triển được Nhà nước khuyến khích đầu tư trong từng thời kỳ. - Được Chính phủ hỗ trợ mạnh mẽ về nguồn vốn, đặc biệt là được Chính phủ bảo đảm khả năng thanh toán các nguồn vốn huy động. - Tính chất ưu đãi của TDĐT thể hiện ở một số điểm cụ thể như: LS thấp hơn LS thị trường, quy mô cho vay lớn, thời gian cho vay dài, điều kiện đảm bảo tiền vay ưu đãi, thuận lợi hơn,… - TDĐT gắn với việc điều tiết kinh tế vĩ mô của Nhà nước. Do đó, tổ chức làm nhiệm vụ quản lý, cho vay là cơ quan chuyên môn của Nhà nước, hiện nay là NHPT, được Nhà nước cấp vốn điều lệ, cấp bù LS, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận nhưng phải đảm bảo thu hồi vốn đầu tư và phải tuân thủ theo những quy định của Nhà nước.3 Cho vay dự án đầu tư bằng nguồn vốn TDĐT 1.1 Khái niệm: Cho vay dự án đầu tư (CVĐT) là việc tổ chức tín dụng đồng ý cấp một hạn mức tín dụng cho chủ đầu tư thực hiện dự án trong một thời gian và điều kiện được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng sau khi đã tổ chức thẩm định tính khả thi và hiệu quả của DAĐT.
Chủ đầu tư có trách nhiệm thực hiện đúng, đầy đủ các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng tín dụng và hoàn trả cả gốc và lãi cho tổ chức tín dụng đúng hạn (Sổ tay tín dụng, 2008).2 Đặc điểm của cho vay dự án đầu tư + Vốn đầu tư lớn, thời gian cho vay dài, thu hồi vốn chậm Hoạt động CVĐT của các Ngân hàng chủ yếu là tài trợ vốn cho khách hàng để thực hiện việc đầu tư thêm tài sản cố định, đổi mới công nghệ, trang thiết bị, xây dựng, mở rộng nhà xưởng… do đó thường đòi hỏi một lượng vốn khá lớn và thời gian cho vay tương đối dài. Hơn nữa nguồn trả nợ chính của dự án là từ khấu hao và lợi nhuận mà dự án đem lại, điều này có nghĩa là ngân hàng chỉ có thể thu hồi nợ khi dự án đã đi vào hoạt động, từ đó dẫn đến thời gian thu hồi vốn của ngân hàng chậm. + Độ rủi ro cao Do thời gian đầu tư tương đối dài trong khi thời gian thu hồi vốn lại chậm nên mức độ rủi ro trong hoạt động CVĐT của ngân hàng tương đối cao. Một DAĐT từ lúc bắt đầu triển khai thực hiện cho đến lúc đi vào sản xuất, hoạt động tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố khác nhau.
Các sự thay đổi về môi trường kinh tế, cơ chế chính sách, thiên tai…đều có thể ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả, nguồn trả nợ của dự án do đó đòi hỏi các ngân hàng khi quyết định tài trợ vốn cho dự án phải thẩm định thật kỹ lưỡng, nhận biết được các rủi ro có thể xảy ra để có biện pháp phòng ngừa kịp thời.4 Bản chất cho vay đầu tư bằng nguồn vốn TDĐT Cho vay dự án đầu tư là một trong các hình thức TDĐT đối với các dự án đầu tư thuộc một số ngành, lĩnh vực quan trọng, chương trình kinh tế lớn và các vùng có điều kiện KT – XH khó khăn, đặc biệt khó khăn cần khuyến khích đầu tư theo quy định của Chính phủ. NHPT là đơn vị được Chính phủ giao thực hiện cho vay dự án đầu tư theo quy định của Chính phủ căn cứ kế hoạch được Thủ tướng Chính phủ giao hàng năm.