CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÍN DỤNG VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 1. TÍN DỤNG VÀ VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1. Khái niệm và các hình thức tín dụng ngân hàng 1. Khái niệm Tín dụng ra đời từ khi xã hội có sự phân công lao động và xuất hiện chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất.
Cùng với sự tan rã của chế độ công sản nguyên thuỷ, quan hệ sản xuất ra đời, phân hoá thành người giàu, người nghèo. Xu hướng của cải ngày một tập trung vào nhóm người có quyền lực, làm cho họ ngày càng trở nên giàu có, trong khi đó có nhiều người khác thu nhập thấp lại rất cần vốn. Để giải quyết mâu thuẫn trên, quan hệ tín dụng đã ra đời. [11] Quan hệ tín dụng ra đời ở giai đoạn đầu là tín dụng nặng lãi và phát triển từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang chế độ phong kiến.
Khi chủ nghĩa tư bản xuất hiện, quá trình sản xuất giản đơn với quy mô nhỏ được thay thế dần bằng quá trình tái sản xuất mở rộng với quy mô cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Các nhà tư bản đã tự thiết lập quan hệ tín dụng với nhau dưới hình thức hàng hoá hoặc tiền tệ, dần xoá bỏ chế độ cho vay nặng lãi. Trong khi đó nền kinh tế tại cùng một thời điểm thì có người thừa vốn lại muốn sinh lời. Vì vậy, tín dụng ngân hàng đóng vai trò trung gian huy động vốn và cho vay vốn.
Cùng với sự phát triển kinh tế hàng hoá, tín dụng ngân hàng cũng đã phát triển và ngày càng phát triển giữ vai trò quan trọng nền kinh tế thị trường. [11] 5 * Tín dụng là gì ? Thuật ngữ tín dụng đang được sử dụng phỗ biến hiện nay xuất phát từ gốc La Tinh: CREDITUM, có nghĩa là sự tin tưởng, sự tín nhiệm. Tín dụng tiếng Anh (Credit) tiếng Pháp (crédit) là cơ chế tạo điều kiện cho một người đi vay, ngay lập tức hoặc trong một thời gian xác định, nhận được tiền để mua sắm tài sản hoặc dịch vụ, với hứa hẹn hoàn trả. Để bù đáp lại, người cấp vốn nói chung được hưởng một khoản thù lao (tiền lãi) [15] Theo ngôn từ dân gian Việt Nam: tín dụng là quan hệ vay mượn.
Theo từ điển thuật ngữ tín dụng thì: tín dụng là một phạm trù kinh tế thể hiện mối quan hệ giữa người đi vay và người cho vay. Trong quan hệ này người cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc hàng hoá cho vay cho người đi vay trong một thời gian nhất định. Đến kỳ hạn trả nợ, người đi vay có trách nhiệm hoàn trả toàn bộ số tiền hoặc hàng hoá đã vay, có kèm hoặc không kèm một khoản lãi. Theo Các Mác: tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng sau một thời gian nhất định lại quay về với một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu.
[2] Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu kinh tế, tín dụng được coi là quan hệ lẫn nhau giữa người cho vay và người đi vay với điều kiện có hoàn trả cả gốc lẫn lãi sau một thời gian nhất định. Hay nói một cách khác, tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ kinh tế mà trong đó mỗi cá nhân hay tổ chức nhường quyền sử dụng (chuyển nhượng) một khối lượng giá trị hoặc hiện vật cho một cá nhân hay tổ chức khác với những ràng buộc nhất định về: số tiền hoàn trả (gốc và lãi), thời gian hoàn trả, lãi suất, cách thức vay mượn và thu hồi… Còn Tín dụng ngân hàng, đó là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và các tổ chức tín dụng (TCTD) khác với các tổ chức, cá nhân. Trong quan hệ tín dụng này, ngân hàng vừa là người đi vay, vừa là người cho vay. Khác với tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng không cung cấp tín dụng dưới hình thức hàng hoá.
6 Ngày nay, có thể hiểu tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn về vốn giữa ngân hàng với cá nhân, tổ chức kinh tế và các tổ chức tín dụng khác theo nguyên tắc có hoàn trả. Theo Luật các Tổ chức tín dụng được Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 12/12/1997 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các Tổ chức tín dụng ngày 26/4/2004 thì “Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng. Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thoả thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác”.[18][19] Từ các khái niệm trên ta thấy: bản chất của tín dụng là một giao dịch về tiền và tài sản trên cơ sở có hoàn trả. Thực chất của tín dụng là sự vay mượn dựa trên cơ sở tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhau.
Trong đó sự hoàn trả của tín dụng là đặc trưng thuộc về bản chất vận động của tín dụng, là dấu ấn để phân biệt phạm trù tín dụng với các phạm trù kinh tế khác. Đối tượng hoạt động tín dụng là vốn, vốn ở đây có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau như: hàng hoá, vàng bạc. hoặc là vốn tiền tệ. Trong hoạt động tín dụng thì vốn tiền tệ là phổ biến.
Các hình thức tín dụng ngân hàng Tín dụng là hoạt động quan trọng nhất, là hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại (NHTM) trong giai đoạn hiện nay. Việc phân loại tín dụng là rất cần thiết và phải có tính khoa học, không được phân loại một cách tuỳ tiện vì nó có ý nghĩa rất lớn. Nó tạo điều kiện để các NHTM có biện pháp quản lý tốt số vốn cho vay, gắn việc cấp tín dụng với đối tượng cho vay, đồng thời giúp NHTM trong khai thác tạo nguồn vốn cũng như sử dụng vốn. Tuỳ theo tiêu chí phân loại người ta chia tín dụng thành nhiều loại khác nhau để quản lý vì mỗi loại tín dụng có những đặc thù riêng về cách thức chuyển giao vốn, luân chuyển vốn, thu hồi vốn.
Do vậy, phải phân loại để quản lý đạt hiệu quả. Gắn sự vận động của vật tư hàng hoá với sự vận động của tiền vay do 7 đặc thù sử dụng vốn của khách hàng khác nhau dẫn đến nó đòi hỏi sự vận động phải khác nhau để thực hiện việc kế hoạch hoá giữa nguồn, sử dụng nguồn hợp lý và có hiệu quả. - Căn cứ vào thời gian cho vay: là thời hạn được tính từ khi ngân hàng phát tiền vay cho đến khi thu hồi hết vốn. Trong thời hạn cho vay có những khoảng thời gian cụ thể: Khách hàng sử dụng tiền của mình để kinh doanh kiếm lời và sau đó hoàn trả cho ngân hàng.
+ Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm, thường được sử dụng để cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của các doanh nghiệp và cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng cá nhân. Đây là hình thức tín dụng ít rủi ro cho Ngân hàng vì trong 1 thời gian ngắn ít có biến động xẩy ra và Ngân hàng luôn dự tính được những biến động xẩy ra đó. Nó bao gồm tín dụng chiết khấu, tín dụng thấu chi, tín dụng ứng trước và tín dụng bổ sung vốn lưu động. + Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm.
Loại tín dụng này được dùng để cho vay vốn phục vụ nhu cầu mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ, các dự án vừa phải có thời gian thu hồi vốn nhanh. + Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm. Loại tín dụng này được sử dụng để cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn, có thời gian thu hồi vốn lâu hơn. - Căn cứ vào mục đích sử dụng: + Tín dụng phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hoá: là loại tín dụng được cung cấp cho các nhà doanh nghiệp, chủ thể kinh doanh để tiến hành sản xuất và lưu thông hàng hoá.
Nó được áp dụng khá phỗ biến trong hoạt động dinh doanh của các NHTM. + Tín dụng tiêu dùng: là hình thức tín dụng sử dụng cho cá nhân để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng, được cung ứng dưới hình thức bằng tiền hoặc dưới 8 hình thức bán chịu hàng hoá. Ngày nay, tín dụng tiêu dùng đã trở thành một trong những xu hướng phát triển và trở thành một thị trường tín dụng rộng lớn. Tuy nhiên do tính chủ động của việc sử dụng vốn, nguồn trả nợ từ cá nhân, ngân hàng khó đánh giá hiệu quả nên loại tín dụng này có mức độ rủi ro cao hơn.
- Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng: + Tín dụng có đảm bảo: là loại tín dụng mà khi cho vay đòi hỏi người vay vốn phải có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người thứ ba. + Tín dụng không đảm bảo (tín chấp): là loại tín dụng không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng. - Căn cứ vào đối tượng tín dụng: + Tín dụng vốn lưu động: là loại tín dụng được cung cấp nhằm hình thành vốn lưu động của doanh nghiệp hay cho vay để bù đắp mức vốn lưu động thiếu hụt tạm thời. Loại tín dụng này thường được chia ra thành các loại: cho vay dự trữ hàng hoá, cho vay chi phí sản xuất và cho vay để thanh toán các khoản nợ dưới hình thức chiết khấu các giấy tờ có giá.
+ Tín dụng vốn cố định: là loại tín dụng được cung cấp nhằm hình thành vốn cố định của doanh nghiệp. Loại tín dụng này thường được sử dụng cho nhu cầu đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các xí nghiệp và công trình mới, thời hạn cho vay đối với loại tín dụng này là trung hạn và dài hạn. - Căn cứ vào phương pháp cho vay: + Tín dụng trực tiếp: là loại tín dụng mà người vay trực tiếp nhận tiền vay và trực tiếp hoàn trả nợ vay cho NHTM. + Tín dụng gián tiếp: là loại tín dụng mà quan hệ tín dụng có liên quan (thông qua) đến người thứ ba.