CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm về du lịch và tài nguyên du lịch 1. Khái niệm về du lịch Theo Tổ chức du lịch thế giới (World Tourist Organization - UNWTO), một tổ chức thuộc Liên hiệp quốc, Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, với mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền. Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư.
[17, trang 1] Trong pháp lệnh du lịch của Việt Nam, tại điều 10 thuật ngữ ‘Du lịch’ được hiểu như sau “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thoả mãn các nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong khoảng một thời gian nhất định”. Tài nguyên du lịch là gì? Tài nguyên du lịch là một trong những yếu tố quan trọng đối với sự phát triển kinh tế và đời sống con người, hiểu theo nghĩa rộng tài nguyên bao gồm tất cả các nguồn lực, năng lượng và thông tin có trên Trái Đất đồng thời trong không gian vũ trụ liên quan mà con người có thể sử dụng phục vụ đời sống cho sự phát triển của mình. Các yếu tố của tài nguyên liên quan đến điều kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử văn hóa kinh tế, xã hội vốn có trong tự nhiên hoặc do con người tạo dựng lên, các yếu tố này luôn tồn tại và gắn liền với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội đặc thù của mỗi vùng miền, mỗi địa phương. Theo Luật Du lịch 2017, Tài nguyên du lịch là cơ sở để phát triển ngành du lịch.
Đó là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch. [5, trang 1] 5 Theo Pirojnik, 2015: “Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên, văn hoá và lịch sử cùng các thành phần của chúng trong việc khôi phục và phát trển thể lực và trí lực của con người, khả năng lao động và sức khoẻ của họ, những tài nguyên này được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp cho việc sản xuất dịch vụ du lịch với nhu cầu thời điểm hiện tại hay tương lai và trong điều kiện kinh tế – kỹ thuật cho phép.” Du lịch là một ngành có sự định hướng tài nguyên rõ rệt. Tài nguyên du lịch là một trong những yếu tố cơ bản, điều kiện tiên quyết để hình thành và phát triển du lịch của một địa phương. Số lượng tài nguyên vốn có, chất lượng của chúng và mức độ kết hợp của các loài tài nguyên trên cùng địa bàn có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển ngành du lịch.
Khái niệm về Biến đổi khí hậu Biến đổi khí hậu - Climate Change: Sự thay đổi của khí hậu (định nghĩa của Công ước khí hậu) được quy trực tiếp hay gián tiếp là do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và đóng góp thêm vào sự biến động khí hậu tự nhiên trong các thời gian có thể so sánh được. Biến đổi khí hậu xác định sự khác biệt giữa các giá trị trung bình dài hạn của một tham số hay thống kê khí hậu. Trong đó, trung bình được thực hiện trong một khoảng thời gian xác định, thường là vài thập kỷ. [6, trang 1] Biến đổi khí hậu có thể giới hạn trong một vùng nhất định hay có thể xuất hiện trên toàn cầu.
Ví dụ: ấm lên, lạnh đi. hay sự biến động của khí hậu dài hạn sẽ dẫn tới BĐKH. BĐKH sẽ có tác động hết sức to lớn đến sự sống cũng như hoạt động của con người nói riêng và của các sinh vật trên trái đất nói chung. Biểu hiện rõ rệt nhất của biến đổi khí hậu là mực nước biển dâng cao do băng tan và do sự nóng lên của khí quyển và Trái đất nói chung.
Ứng phó với biến đổi khí hậu: là các hoạt động của con người nhằm thích ứng với BĐKH và giảm nhẹ BĐKH; [6, trang 1] Thích ứng với biến đổi khí hậu: là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi nhằm mục đích giảm khả năng 6 bị tổn thương do dao động và BĐKH hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội do nó mang lại. [6, trang 1] Kịch bản BĐKH: là giả định có cơ sở khoa học và tính tin cậy về sự tiến triển trong tương lai của các mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội, GDP, phát thải khí nhà kính, BĐKH và nước biển dâng. Kịch bản BĐKH khác với dự báo thời tiết và dự báo khí hậu vì kịch bản BĐKH đưa ra quan điểm về mối ràng buộc giữa phát triển và hành động. [6, trang 1] Tóm tắt các kịch bản BĐKH năm 2020 [1] - Nhiệt độ không khí trung bình năm ở tất cả các vùng của Việt Nam đều có xu thế tăng so với thời kỳ cơ sở (1986-2005); mức tăng phụ thuộc vào các kịch bản RCP và vùng khí hậu.
Theo kịch bản RCP4.5: Nhiệt độ trung bình năm trên toàn quốc vào giữa thế kỷ có mức tăng 1,2÷1,7oC; đến cuối thế kỷ, có mức tăng 1,6÷2,4oC. Nhìn chung, nhiệt độ phía Bắc tăng cao hơn phía Nam. Theo kịch bản RCP8.5: Nhiệt độ trung bình năm trên toàn quốc vào giữa thế kỷ có mức tăng 1,7÷2,3oC; đến cuối thế kỷ, có mức tăng 3,2÷4,2oC. - Lượng mưa năm Theo kịch bản RCP4.5: Lượng mưa năm có xu thế tăng trên phạm vi cả nước, với mức tăng phổ biến 10÷15% vào giữa thế kỷ và 10÷20% vào cuối thế kỷ.
Theo kịch bản RCP8.5: vào giữa thế kỷ 21, lượng mưa năm có xu thế tăng phổ biến từ 10÷15% trên hầu hết cả nước; ở các trạm đảo, ven biển Đông Bắc lượng mưa có thể tăng từ 20÷30%. Đến cuối thế kỷ, lượng mưa năm có xu thế tăng phổ biến từ 10÷25%, đáng lưu ý là một phần diện tích thuộc Đông Bắc lượng mưa có thể tăng trên 40%. - Một số hiện tượng khí hậu cực đoan Số lượng bão và áp thấp nhiệt đới có xu thế ít biến đổi nhưng có phân bố tập trung hơn vào cuối mùa bão. Bão mạnh đến rất mạnh có xu thế gia tăng.
7 Hạn hán: Theo kịch bản RCP4.5, đến cuối thể kỷ 21, số tháng hạn tăng trên đa phần diện tích của Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và một phần diện tích Đồng bằng Bắc Bộ và Nam Trung Bộ và có xu thế giảm trên đa phần diện tích Bắc Bộ và Trung Trung Bộ. Theo kịch bản RCP8.5, số tháng hạn tăng trên đa phần diện tích cả nước và có xu thế giảm ở một phần diện tích khu vực Tây Bắc, Trung Bộ và cực Nam của Nam Bộ Nước biển dâng: là sự dâng mực nước của đại dương trên toàn cầu, trong đó không bao gồm thuỷ triều, nước dâng do bão. Nước biển dâng tại một vị trí nào đó có thể ca hơn hoặc thấp hơn so với trung bình toàn cầu vì có sự khác nhau về nhiệt độ của đại dương và các yếu tố khác. Theo kịch bản RCP4.5, vào cuối thế kỷ, độ cao sóng biển trung bình toàn biển Đông tăng khoảng 9%.
Khu vực ven biển từ Móng Cái – Hòn Dáu, có độ cao sóng giảm mạnh nhất với mức giảm khoảng 27%; các khu vực ven biển từ Đèo Hải Vân đến Mũi Cà Mau, độ cao sóng biển có xu hướng tăng nhẹ từ 1% đến 9%. Khu vực Mũi Cà Mau đến Kiên Giang, độ cao sóng không có xu hướng rõ ràng. Khu vực quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, độ cao sóng biển tăng mạnh nhất với mức tăng tương ứng là 20% và 19% Bảng 1.1 Biến động độ cao sóng biển so với thời kỳ cơ sở (1986-2005) cho các khu vực ven biển Việt Nam và trung bình toàn Biển Đông Đơn vị: % Kịch bản RCP4.5 Kịch bản RCP8.5 Khu vực Giữa thế kỷ Cuối thế kỷ Giữa thế kỷ Cuối thế kỷ Móng Cái - Hòn -27 -27 -26 -24 Dấu Hòn Dấu - Đèo -17 -16 -16 -14 Ngang Trung bình Biển 8 9 8 7 Đông (Nguồn: kịch bản BĐKH năm 2020 – BTNMT) 8 Theo kịch bản RCP8.5, vào cuối thế kỷ, độ cao sóng biển trung bình toàn Biển Đông tăng khoảng 7%. Khu vực ven biển từ Móng Cái – Hòn Dáu, có độ cao sóng giảm mạnh nhất với mức giảm khoảng 24%; các khu vực ven biển từ Đèo Hải Vân đến Mũi Cà Mau, độ cao sóng biển có xu hướng tăng nhẹ, từ 1% đến 9%.
Khu vực Mũi Cà Mau đến Kiên Giang, độ cao sóng có xu hướng giảm nhẹ, khoảng 1%. Khu vực quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, độ cao sóng biển tăng mạnh nhất, với mức tăng tương ứng là 19% và 17% .5 (màu đỏ), khoảng tin cậy 5% - 95% (khoảng mờ) của 2 kịch bản RCP2. Cột giá trị bên phải biểu thị khoảng tin cậy 5% - 95% vào năm 2100. Kịch bản nước biển dâng cho các tỉnh ven biển và quần đảo.
[Nguồn: kịch bản BĐKH năm 2020 – BTNMT] Chú thích: Kịch bản nước biển dâng so với thời kỳ cơ sở theo kịch bản RCP2.5 (màu đỏ), khoảng tin cậy 5% - 10 95% (khoảng mờ) của 2 kịch bản RCP2. Cột giá trị bên phải biểu thị khoảng tin cậy 5% - 95% vào năm 2100. Phát triển bền vững trong phát triển du lịch Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng những nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển các hoạt động du lịch trong tương lai. Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thỏa mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ của con người trong khi đó vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa, đa dạng sinh học, sự phát triển các hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống của con người [3, trang 63].