Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 2005 - 2012, ngành du lịch Việt Nam ghi nhận sự bứt phá mạnh mẽ khi đón 6,847 triệu lượt khách quốc tế và 32,5 triệu lượt khách nội địa vào năm 2012, mang lại tổng doanh thu ước đạt 160.000 tỷ đồng. Nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với diện tích tự nhiên 4.035,9 km2, tỉnh Tây Ninh sở hữu vị trí địa kinh tế đặc biệt khi có 240 km đường biên giới giáp Vương quốc Campuchia, 2 cửa khẩu quốc tế trọng điểm là Mộc Bài và Xa Mát, cùng mạng lưới 4 cửa khẩu quốc gia và 10 cửa khẩu phụ. Đây là cầu nối chiến lược trên tuyến Hành lang kinh tế Xuyên Á kết nối trực tiếp Thành phố Hồ Chí Minh với các nước Tiểu vùng sông Mekong mở rộng (GMS) và khối ASEAN.

Mặc dù sở hữu kho tàng tài nguyên phong phú với Quần thể danh thắng Núi Bà Đen đón hơn 2,5 triệu lượt khách/năm, Vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát rộng 18.765 ha và hồ Dầu Tiếng có diện tích mặt nước 27.000 ha, hoạt động du lịch của tỉnh vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn. Tốc độ tăng trưởng doanh thu chưa bền vững, sản phẩm du lịch còn nghèo nàn, hệ thống cơ sở hạ tầng dịch vụ quy mô nhỏ và thiếu các cơ sở vui chơi giải trí cao cấp, dẫn đến việc chưa khai thác tương xứng với lợi thế mở cửa kinh tế quốc tế.

Luận văn tập trung đánh giá toàn diện tiềm năng, thực trạng phát triển du lịch Tây Ninh giai đoạn 2005 - 2012, phân tích tác động đa chiều của tiến trình hội nhập quốc tế sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Từ đó, công trình xác lập hệ thống quan điểm, mục tiêu và giải pháp chiến lược nhằm thúc đẩy du lịch Tây Ninh phát triển vượt bậc đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ khoa học để địa phương hiện thực hóa Nghị quyết 04-NQ/TU của Tỉnh ủy Tây Ninh, thúc đẩy tốc độ tăng trưởng thu nhập du lịch đạt trên 21,77%/năm, góp phần nâng tỷ trọng khu vực dịch vụ chiếm 44,2% cơ cấu kinh tế toàn tỉnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng Lý thuyết tổ chức lãnh thổ du lịch của các học giả kinh điển như I.I Pirojnik (1985) và Mironenko, kết hợp với khung lý thuyết quy hoạch không gian du lịch của các nhà khoa học Việt Nam tiêu biểu như Vũ Tuấn Cảnh, Lê Thông và Nguyễn Minh Tuệ. Đồng thời, luận văn tích hợp Lý thuyết phát triển du lịch bền vững theo tiêu chuẩn của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) và Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về nghề du lịch ASEAN (MRA-TP).

Khung lý thuyết của đề tài làm sáng tỏ 4 khái niệm trung tâm:

  1. Sản phẩm du lịch: Tập hợp các dịch vụ và hàng hóa vật chất, tinh thần nhằm thỏa mãn nhu cầu trải nghiệm văn hóa, tín ngưỡng và sinh thái của du khách tại điểm đến.
  2. Tài nguyên du lịch: Bao gồm tài nguyên tự nhiên (địa mạo, thủy văn, hệ sinh thái) và tài nguyên nhân văn (82 di tích lịch sử, lễ hội tôn giáo, làng nghề truyền thống).
  3. Hội nhập kinh tế quốc tế trong du lịch: Quá trình tự do hóa thương mại dịch vụ, mở cửa thị trường lữ hành, lưu trú theo cam kết WTO và các hiệp định khu vực ASEAN, GMS.
  4. Sức chứa du lịch sinh thái: Ngưỡng giới hạn khai thác tại các khu bảo tồn thiên nhiên nhằm bảo đảm cân bằng sinh thái.

Mô hình nghiên cứu phân tích mối quan hệ tương hỗ giữa 4 nhân tố cốt lõi: tài nguyên điểm đến, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, nguồn nhân lực phục vụ và thể chế chính sách quản lý nhà nước dưới tác động của làn sóng toàn cầu hóa.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập có hệ thống từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tây Ninh, Cục Thống kê tỉnh Tây Ninh, Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch và Tổng cục Du lịch trong giai đoạn 2005 - 2012, kết hợp với các văn kiện quy hoạch kinh tế - xã hội của Ủy ban nhân dân tỉnh.

Về dữ liệu sơ cấp, tác giả tiến hành điều tra thực địa với cỡ mẫu khảo sát gồm 150 du khách tại các điểm đến trọng điểm (Khu danh thắng Núi Bà Đen, Tòa Thánh Cao Đài, VQG Lò Gò - Xa Mát) và 30 doanh nghiệp lữ hành, khách sạn trên địa bàn tỉnh. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng để đảm bảo tính đại diện cho các nhóm khách du lịch nội địa, khách quốc tế và các loại hình doanh nghiệp.

Phương pháp phân tích số liệu kết hợp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp liên ngành, phương pháp chuyên gia và ứng dụng bản đồ không gian GIS. Việc lựa chọn kết hợp phân tích định lượng và định tính giúp lượng hóa chính xác các chỉ tiêu về lượng khách, doanh thu, cơ cấu vốn đầu tư 923 tỷ đồng, đồng thời thẩm định khách quan chất lượng dịch vụ và không gian lãnh thổ du lịch.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tăng trưởng lượng khách đạt mức cao nhưng cơ cấu thị trường mất cân đối nghiêm trọng. Giai đoạn 2005 - 2012, lượng khách du lịch đến Tây Ninh tăng trưởng bình quân 9,70%/năm, đạt 3,3 triệu lượt vào năm 2012 (tăng gấp 2 lần so với năm 2005). Tuy nhiên, khách tham quan trong ngày chiếm tới 67%, trong khi khách lưu trú chỉ chiếm 33%. Đáng chú ý, khách quốc tế có lưu trú dù đạt tốc độ tăng trưởng 21,60%/năm (từ 3.750 lượt năm 2005 lên 9.600 lượt năm 2012) nhưng chỉ chiếm tỷ trọng khiêm tốn 0,28% tổng lượt khách toàn tỉnh, trong khi khách nội địa chiếm hơn 99%.

Thứ hai, nguồn vốn đầu tư du lịch còn hạn chế và hoàn toàn vắng bóng nguồn vốn ngoại lực. Giai đoạn 2005 - 2012, toàn tỉnh có 103 dự án đầu tư phát triển du lịch với tổng vốn 923 tỷ đồng. Trong đó, 14 dự án hạ tầng giao thông và kỹ thuật tại các khu du lịch đạt 85 tỷ đồng (ngân sách nhà nước chiếm 100%), 89 dự án cơ sở vật chất kỹ thuật đạt 838 tỷ đồng do các doanh nghiệp tư nhân trong nước thực hiện. Tỉnh chưa thu hút được bất kỳ dự án FDI nào trong lĩnh vực du lịch.

Thứ ba, sản phẩm du lịch mang tính mùa vụ cao và chưa tận dụng hiệu quả lợi thế kinh tế cửa khẩu. Lượng khách xuất nhập cảnh qua các cửa khẩu quốc tế tăng trưởng bình quân 34,34%/năm, đạt 3,1 triệu lượt xuất nhập cảnh năm 2012, nhưng nguồn khách quá cảnh này chưa được chuyển hóa thành khách du lịch tại địa phương. Hoạt động du lịch tập trung chủ yếu vào lễ hội tâm linh tại Núi Bà Đen (chiếm hơn 75% lượng khách toàn tỉnh), trong khi các tài nguyên sinh thái như VQG Lò Gò - Xa Mát (18.765 ha) và Hồ Dầu Tiếng (dung tích 1,45 tỷ m3 nước) chưa hình thành được sản phẩm du lịch đặc sắc.

Thảo luận kết quả

Thực trạng tỷ lệ khách lưu trú thấp (33%) và thời gian lưu trú ngắn (trung bình dưới 1,5 ngày) bắt nguồn từ việc thiếu vắng các dịch vụ bổ trợ, dịch vụ giải trí về đêm và hệ thống cơ sở lưu trú đạt chuẩn cao cấp. Khoảng cách địa lý gần Thành phố Hồ Chí Minh (khoảng 100 km) qua Quốc lộ 22 khiến du khách có xu hướng đi và về trong ngày.

So với các địa phương trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam như Bà Rịa - Vũng Tàu hay Bình Dương, mức chi tiêu bình quân của du khách tại Tây Ninh thấp hơn đáng kể do sản phẩm quà lưu niệm, ẩm thực và dịch vụ giải trí chưa được thương mại hóa bài bản.

Dữ liệu nghiên cứu được trực quan hóa qua Biểu đồ cơ cấu khách du lịch (phản ánh tỷ lệ 99% khách nội địa so với 1% khách quốc tế) và Bảng cân đối nguồn vốn đầu tư du lịch. Các bảng biểu này chứng minh tính mùa vụ gay gắt của du lịch Tây Ninh khi hơn 60% lượng khách tập trung vào 3 tháng đầu năm trong dịp Hội Xuân Núi Bà Đen. Điều này đòi hỏi địa phương phải nhanh chóng tái cơ cấu sản phẩm, chuyển dịch từ du lịch hành hương thuần túy sang chuỗi giá trị du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng và du lịch biên mậu.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Tái định vị và đa dạng hóa chuỗi sản phẩm du lịch đặc thù: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tây Ninh chủ trì xây dựng đề án nâng cấp 3 cụm không gian du lịch trọng điểm (Cụm Núi Bà Đen - Hồ Dầu Tiếng; Cụm VQG Lò Gò - Xa Mát; Cụm sông Vàm Cỏ Đông) trong giai đoạn 2014 - 2018. Mục tiêu nâng thời gian lưu trú bình quân từ 1,2 ngày lên 2,0 ngày và tăng mức chi tiêu bình quân của du khách thêm 35% vào năm 2020.
  2. Hoàn thiện chính sách ưu đãi đầu tư và phát triển hạ tầng: Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh ban hành cơ chế thu hút đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP), áp dụng chính sách một cửa, miễn giảm thuế thuê đất nhằm kêu gọi từ 1.500 đến 2.000 tỷ đồng vốn xã hội hóa và FDI trong giai đoạn 2015 - 2020 để hoàn thiện các khu nghỉ dưỡng sinh thái Ma Thiên Lãnh, bến thuyền sông Vàm Cỏ Đông.
  3. Mở rộng liên kết vùng và khai thác thị trường khách quốc tế xuyên biên giới: Trung tâm Xúc tiến Du lịch Tây Ninh phối hợp cùng các hãng lữ hành Thành phố Hồ Chí Minh và Tổng cục Du lịch thiết lập tour du lịch caravan quốc tế theo tuyến Xuyên Á (TP.HCM - Mộc Bài - Phnom Penh - Siem Reap - Bangkok) từ năm 2015, đặt mục tiêu tăng trưởng khách quốc tế đạt 25%/năm.
  4. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực theo tiêu chuẩn MRA-TP của ASEAN: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với các cơ sở đào tạo chuyên ngành tổ chức bồi dưỡng chuẩn hóa nghiệp vụ lữ hành, ngoại ngữ và văn hóa giao tiếp cho 100% hướng dẫn viên, nhân viên quản lý khách sạn trên địa bàn trong giai đoạn 2014 - 2020, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn đạt 65% vào năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách du lịch: Giúp Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Tây Ninh sử dụng dữ liệu thực chứng để xây dựng quy hoạch phát triển ngành, ban hành chính sách quản lý phù hợp với cam kết WTO và ASEAN.
  2. Các doanh nghiệp lữ hành và nhà đầu tư phát triển dự án: Cung cấp bức tranh tổng thể về tiềm năng 82 di tích, quỹ đất phát triển du lịch và các cơ chế ưu đãi, hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng tour tuyến mới qua cửa khẩu quốc tế Mộc Bài, Xa Mát.
  3. Giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Du lịch: Cung cấp tài liệu tham khảo học thuật về phương pháp ứng dụng lý thuyết tổ chức lãnh thổ du lịch vào thực tiễn phát triển kinh tế địa phương biên giới.
  4. Ban quản lý các khu di tích và vườn quốc gia: Cung cấp cơ sở khoa học để quản lý sức chứa du khách, bảo tồn tài nguyên sinh thái tại VQG Lò Gò - Xa Mát (18.765 ha) và phát triển dịch vụ du lịch bền vững tại Núi Bà Đen.

Câu hỏi thường gặp

Du lịch Tây Ninh sở hữu những lợi thế cạnh tranh cốt lõi nào trong tiến trình hội nhập quốc tế?

Tây Ninh có vị trí cửa ngõ quốc tế với 240 km đường biên giới, 2 cửa khẩu quốc tế Mộc Bài và Xa Mát nằm trên trục đường Xuyên Á kết nối trực tiếp với Campuchia và Thái Lan. Tỉnh sở hữu tài nguyên độc bản gồm Di tích quốc gia đặc biệt Căn cứ Trung ương Cục miền Nam, Quần thể danh thắng Núi Bà Đen đón 2,5 triệu lượt khách/năm, Tòa Thánh Cao Đài và Vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát rộng 18.765 ha.

Nguyên nhân chính khiến doanh thu và tỷ lệ khách lưu trú tại Tây Ninh giai đoạn 2005 - 2012 còn thấp là gì?

Số liệu thực tế chỉ ra rằng khách tham quan trong ngày chiếm tới 67%, trong khi khách lưu trú chỉ chiếm 33%. Nguyên nhân chủ yếu do cơ sở lưu trú đạt chuẩn cao cấp còn thiếu, các sản phẩm vui chơi giải trí ban đêm gần như chưa có, cùng với vị trí cách Thành phố Hồ Chí Minh chỉ 100 km khiến phần lớn khách chọn đi về trong ngày.

Bức tranh thu hút vốn đầu tư vào ngành du lịch Tây Ninh thời kỳ 2005 - 2012 có điểm gì đáng lưu ý?

Giai đoạn 2005 - 2012, tỉnh huy động được 923 tỷ đồng cho 103 dự án du lịch. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước đầu tư 85 tỷ đồng cho 14 dự án hạ tầng và vốn doanh nghiệp tư nhân trong nước đạt 838 tỷ đồng cho 89 dự án cơ sở kỹ thuật. Toàn tỉnh chưa thu hút được nguồn vốn FDI nào vào lĩnh vực du lịch.

Luận văn đề xuất giải pháp gì để khai thác dòng khách quốc tế qua các cửa khẩu biên giới?

Nghiên cứu đề xuất liên kết với ngành du lịch Thành phố Hồ Chí Minh và các quốc gia Tiểu vùng sông Mekong mở rộng (GMS) để xây dựng tour liên tuyến quốc tế Việt Nam - Campuchia - Thái Lan qua cửa khẩu Mộc Bài, tận dụng lưu lượng hơn 3,1 triệu lượt người xuất nhập cảnh mỗi năm để gia tăng nguồn khách du lịch quốc tế có lưu trú.

Làm thế nào để khắc phục triệt để tính mùa vụ trong hoạt động du lịch của tỉnh Tây Ninh?

Để giảm áp lực quá tải cục bộ vào dịp Hội Xuân Núi Bà Đen (thu hút hơn 1,5 triệu lượt khách dịp đầu năm), luận văn kiến nghị phát triển du lịch sinh thái nghỉ dưỡng quanh năm tại Hồ Dầu Tiếng (27.000 ha mặt nước), khai thác du lịch mạo hiểm tại thung lũng Ma Thiên Lãnh và du lịch về nguồn tại 82 di tích lịch sử cách mạng trên địa bàn.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về tổ chức lãnh thổ du lịch và hội nhập kinh tế quốc tế theo chuẩn mực WTO, ASEAN.
  • Đánh giá thực trạng phát triển du lịch Tây Ninh giai đoạn 2005 - 2012 với mức tăng trưởng khách bình quân 9,70%/năm và doanh thu tăng 21,77%/năm.
  • Nhận diện chính xác các điểm nghẽn cốt lõi về cơ cấu khách lưu trú thấp (33%), tỷ trọng khách quốc tế khiêm tốn (0,28%) và sự thiếu hụt vốn đầu tư FDI.
  • Xác lập 8 nhóm giải pháp mang tính đột phá về quy hoạch không gian, phát triển sản phẩm du lịch biên mậu, nâng cấp hạ tầng và chuẩn hóa nhân lực.
  • Đề xuất lộ trình phân kỳ đầu tư và hệ thống chỉ tiêu dự báo kinh tế du lịch cụ thể đến năm 2020, tầm nhìn 2030.

Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu, độc lập đầu tiên về phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh trong bối cảnh hội nhập quốc tế, đóng góp luận cứ thực tiễn quan trọng cho công tác quản trị điểm đến. Các cơ quan quản lý và doanh nghiệp lữ hành cần nhanh chóng triển khai hợp tác công - tư giai đoạn 2015 - 2020 để đưa du lịch Tây Ninh trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của vùng Đông Nam Bộ.