Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Phát triển du lịch tâm linh tại Đền Củi, xã Xuân Hồng, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh" được thực hiện bởi sinh viên Phạm Thị Vân Nam (chuyên ngành Văn hóa Du lịch, ngành Văn hóa học, Khoa Quản lý xã hội, Học viện Hành chính Quốc gia) dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Quang Trung vào năm 2024.

Về bối cảnh thực tiễn, du lịch tâm linh tại Việt Nam đang từng bước khẳng định vị thế trong đời sống xã hội nhờ bề dày văn hóa truyền thống, tín ngưỡng và tôn giáo bản địa. Huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh sở hữu hệ thống tài nguyên nhân văn phong phú, trong đó Di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia Đền Củi (Đền Chợ Củi) tại xã Xuân Hồng là một trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng thờ Mẫu và phối thờ Quan Hoàng Mười. Mặc dù thu hút lượng lớn khách thập phương, hoạt động du lịch tại Đền Củi vẫn bộc lộ nhiều hạn chế: công tác quản lý và quy hoạch chưa đồng bộ, hoạt động dịch vụ còn manh mún, nguồn nhân lực du lịch chủ yếu là cư dân địa phương chưa qua đào tạo chuyên môn, cùng các bất cập trong quản lý nguồn kinh phí công đức và tổ chức lễ hội.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch tâm linh, khảo sát và phân tích thực trạng hoạt động du lịch tại Đền Củi, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và khai thác giá trị di tích. Để thực hiện mục đích này, tác giả xác định 03 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến phát triển du lịch tâm linh.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động du lịch văn hóa tâm linh tại Đền Củi, xã Xuân Hồng, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
  3. Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phát triển du lịch văn hóa tâm linh tại Đền Củi, xã Xuân Hồng, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động phát triển du lịch tâm linh tại Đền Củi.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Xuân Hồng, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 2020 đến năm 2024.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận đề tài dựa trên hệ thống cơ sở pháp lý và lý luận chuyên ngành văn hóa học, du lịch học:

  • Hệ thống khái niệm cốt lõi: Định nghĩa du lịch theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) và Khoản 1, Điều 3 Luật Du lịch Việt Nam số 09/2017/QH14; khái niệm tâm linh dưới góc độ ngôn ngữ học (Đào Duy Anh, Nguyễn Quốc Hùng) và văn hóa học (Nguyễn Đăng Duy); phân định ranh giới giữa tôn giáo, tín ngưỡng theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 02/2016/QH14 với hiện tượng mê tín dị đoan quy định tại Điều 320 Bộ luật Hình sự 2015; khái niệm du lịch tâm linh dựa trên quan điểm của Nguyễn Văn Tuấn (tiếp cận du lịch tâm linh là một bộ phận của du lịch văn hóa); các lý thuyết về phát triển và phát triển du lịch bền vững.
  • Các điều kiện hình thành và phát triển du lịch tâm linh: Tác giả phân tích 05 nhóm điều kiện cơ bản gồm tài nguyên du lịch (tự nhiên và nhân văn), cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng, thị trường khách du lịch (nội địa, quốc tế, khách tâm linh), nguồn nhân lực phục vụ du lịch và cơ chế chính sách quản lý nhà nước (Điều 5 Luật Du lịch 2017).
Phương pháp nghiên cứu Quy mô và quy trình thực hiện thực tế Mục đích áp dụng
Thu thập, tổng hợp tài liệu Thu thập các văn bản quy phạm pháp luật, công trình nghiên cứu đi trước, văn bản điều hành của tỉnh Hà Tĩnh và huyện Nghi Xuân. Xây dựng khung lý luận và nắm bắt các chủ trương, quy chế quản lý di tích.
Điền dã thực địa Tiến hành 02 lần khảo sát thực tế tại Đền Củi và không gian phụ cận xã Xuân Hồng. Quan sát cảnh quan, cơ sở vật chất, hoạt động thực hành tín ngưỡng và nếp sống buôn bán.
Điều tra bảng hỏi Phát phiếu khảo sát trực tiếp tới 60 lượt khách du lịch trong 02 đợt khảo sát thực tế. Đánh giá hành vi, độ tuổi, mục đích chuyến đi và nhu cầu lưu trú, chi tiêu của du khách.
Thống kê và xử lý số liệu Phân loại, tổng hợp số liệu thứ cấp từ Ban quản lý di tích, UBND huyện Nghi Xuân và các báo cáo thống kê. Lập bảng biểu số liệu về lượt khách, nguồn thu công đức và cơ cấu tổ chức bộ máy.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận liên quan đến phát triển du lịch tâm linh

Chương 1 tập trung làm rõ các khái niệm nền tảng về du lịch, tâm linh, tín ngưỡng, tôn giáo và du lịch tâm linh. Tác giả chỉ ra rằng tâm linh tại Việt Nam mang 03 đặc điểm cơ bản:

  • Là sự dung hợp giữa phong tục tập quán bản địa với các tôn giáo du nhập;
  • Là hệ thống giá trị văn hóa độc đáo mang bản sắc dân tộc (tiêu biểu như Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ được UNESCO ghi danh);
  • Mang tính giáo dục, hướng thiện và là chỗ dựa tinh thần cho cộng đồng.

Biểu hiện của đời sống tâm linh thể hiện qua các thiết chế thờ cúng gia đình (gia tiên, thần tài, thổ công), cộng đồng (thành hoàng, anh hùng dân tộc, thần nông nghiệp) và hệ thống kiến trúc đền, chùa, miếu mạo cùng các nghi lễ theo chu kỳ thời gian. Chương này cũng phân tích sâu 05 điều kiện tiền đề để phát triển du lịch tâm linh: tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng - kỹ thuật, đặc điểm khách du lịch tâm linh (mức chi tiêu thuần túy thấp, tính mùa vụ rõ rệt), yêu cầu chuyên môn hóa của nguồn nhân lực và vai trò định hướng của cơ chế, chính sách quản lý nhà nước.

Chương 2: Thực trạng hoạt động du lịch văn hoá tâm linh tại Đền Củi, xã Xuân Hồng, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh

Chương 2 cung cấp bức tranh tổng thể về địa bàn nghiên cứu và thực trạng vận hành điểm đến Đền Củi:

  • Khái quát địa bàn: Huyện Nghi Xuân có diện tích 220 km², dân số trên 100.000 người với 17 đơn vị hành chính cấp xã (15 xã, 02 thị trấn). Địa phương sở hữu trên 200 di tích lịch sử - văn hóa (83 di tích đã xếp hạng gồm 01 di tích quốc gia đặc biệt, 08 di tích cấp quốc gia và 74 di tích cấp tỉnh), cùng các di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu như Ca trù Cổ Đạm, Trò Kiều, Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh.
  • Lịch sử và kiến trúc Đền Củi: Đền có tên chữ là "Khu Độc linh từ", được khởi dựng cuối thời Hậu Lê trên núi Khu Độc thuộc dãy Ngũ Mã, hướng nhìn ra sông Lam. Đền thờ Quan Hoàng Mười – nhân vật được dân gian gắn với hiện thân của Chiêu Trưng Đại vương Lê Khôi hoặc Uy Minh Vương Lý Nhật Quang. Về mặt kiến trúc, đền xây dựng theo kiểu chữ Tam ($三$) gồm Hạ điện, Trung điện và Thượng điện dọc theo trục thần đạo. Các không gian thờ tự bố trí gồm: Cung Tam tòa Thánh Mẫu (Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải), Cung Ngũ vị Tôn ông, Cung Quan Hoàng Mười, Cung Chầu Mười và Cung Trần Triều thờ Đức Thánh Trần. Đền được công nhận là Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia năm 1993 và được Liên hiệp các Hội UNESCO Việt Nam cấp Chứng nhận đạt tiêu chuẩn Tam Tứ Phủ.
  • Lễ hội hàng năm: Đền duy trì 03 ngày đại lễ: ngày 03/3 âm lịch (Giỗ Mẫu Liễu Hạnh), ngày 20/8 âm lịch (Giỗ Đức Thánh Trần) và ngày 10/10 âm lịch (Giỗ Quan Hoàng Mười – lễ hội lớn nhất quy mô cấp huyện).
  • Quy hoạch và hạ tầng: Di tích được phê duyệt quy hoạch chi tiết 1/500 tại Quyết định số 3474/QĐ-UBND ngày 30/11/2010 của UBND tỉnh Hà Tĩnh với tổng diện tích 8,44 ha, phân định thành: Khu vực bảo vệ I (khu lõi gồm núi Cô Độc diện tích 5.154 m² và khu Đền/Chùa Tháp Sơn diện tích hơn 3.000 m²); Khu vực bảo vệ II (vùng đệm mở rộng 2,94 ha bao gồm núi Ngũ Mã và khu vực Chợ Củi); Khu dịch vụ hỗ trợ (0,40 ha); Khu tái định cư (0,56 ha gồm 24 lô).
  • Thị trường khách du lịch: Năm 2023, Đền Củi đón 178.900 lượt khách (chiếm 27,9% trong tổng số hơn 641.000 lượt khách toàn huyện). Khách tham quan chủ yếu ở độ tuổi trung niên (từ 30 tuổi trở lên), đi theo nhóm gia đình, mang tính mùa vụ cao (tập trung vào dịp đầu xuân, rằm tháng 7 và kỳ lễ hội tháng 10 âm lịch; vắng khách vào mùa hè tháng 7-8 do nắng nóng gió Lào). Tỷ lệ khách lưu trú qua đêm tại chỗ rất thấp.
  • Tổ chức bộ máy và quản lý tài chính: Ngày 11/4/2023, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 836/QĐ-UBND hợp nhất các đơn vị thành Ban Quản lý dịch vụ công ích và các điểm du lịch huyện Nghi Xuân (Ban CIDL). Ngày 08/3/2024, Quy chế hoạt động mới được ban hành theo Quyết định số 35-CIDL. Bộ phận vận hành trực tiếp gồm: Ban Hành chính - Tổng hợp, Ban Nội tự, Đội An ninh trật tự, Đội Vệ sinh môi trường, Đội Trông giữ xe và Đội Vận chuyển. Từ năm 2014 đến nay, tổng nguồn thu công đức tại đền đạt 19,4 tỷ đồng (riêng giai đoạn 2014–2022 thu 17,9 tỷ đồng). Việc quản lý tài chính hiện thực hiện theo Thông tư 04/2023/TT-BTC của Bộ Tài chính, áp dụng chuyển khoản công đức qua mã QR và quản lý tài khoản qua Kho bạc Nhà nước.

Chương 3: Một số giải pháp phát triển du lịch tâm linh tại Đền Củi

Dựa trên các phân tích thực trạng, tác giả đưa ra hệ thống các nhóm giải pháp:

  1. Cơ chế chính sách và quản lý: Hoàn thiện quy định chức năng, nhiệm vụ của Ban CIDL; tăng cường thanh tra, kiểm tra tài chính; kiểm soát chặt chẽ việc đốt vàng mã, tình trạng chèo kéo khách và mê tín dị đoan.
  2. Cơ sở vật chất kỹ thuật: Tiếp tục triển khai các hạng mục theo quy hoạch 8,44 ha đã duyệt, nâng cấp bãi đỗ xe, hoàn thiện hạ tầng bảo vệ môi trường và PCCC.
  3. Phát triển sản phẩm và thị trường khách: Xây dựng tour kết hợp du lịch tâm linh Đền Củi với Khu di tích Nguyễn Du, Đền Nguyễn Công Trứ và du lịch biển Xuân Thành; đa dạng hóa sản phẩm lưu niệm gắn với chương trình OCOP địa phương.
  4. Nguồn nhân lực: Tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức du lịch, văn hóa giao tiếp và nghiệp vụ thuyết minh cho nhân viên Ban quản lý và các hộ kinh doanh ki-ốt xung quanh đền.
  5. Tuyên truyền, quảng bá: Ứng dụng công nghệ thông tin (mã QR tra cứu thông tin di tích, video thuyết minh số hóa) trên Cổng thông tin điện tử huyện Nghi Xuân và mạng xã hội; đẩy mạnh liên kết quảng bá cấp tỉnh và vùng Bắc Trung Bộ.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và phản ánh trung thực các chỉ số thực tế về hoạt động du lịch tại Đền Củi:

Hạng mục dữ liệu Số liệu / Hiện trạng được ghi nhận
Quy mô quy hoạch di tích 8,44 ha (theo Quyết định số 3474/QĐ-UBND ngày 30/11/2010).
Lượt khách tham quan (2023) 178.900 lượt (đạt tỷ lệ 27,9% tổng lượng khách du lịch toàn huyện Nghi Xuân).
Nguồn thu tiền công đức Tổng cộng 19,4 tỷ đồng (trong đó giai đoạn 2014–2022 đạt 17,9 tỷ đồng).
Cơ cấu tổ chức quản lý Vận hành theo mô hình Ban CIDL thành lập năm 2023 và Quy chế số 35-CIDL ngày 08/3/2024.
Tài nguyên di sản liên quan Huyện Nghi Xuân có 83 di tích đã xếp hạng; Đền Củi được cấp bằng Quốc gia năm 1993.
  • Đóng góp về mặt lý luận: Khóa luận hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển du lịch văn hóa tâm linh ở cấp độ điểm di tích cụ thể, làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu tương tự về di sản tín ngưỡng thờ Mẫu.
  • Đóng góp về mặt thực tiễn: Công trình cung cấp hệ thống số liệu cập nhật giai đoạn 2020–2024 về lượng khách, tài chính và bộ máy quản lý tại Đền Củi. Các giải pháp đề xuất gắn sát với Đề án và quy chế quản lý thực tế của chính quyền địa phương huyện Nghi Xuân và tỉnh Hà Tĩnh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực tế bảng hỏi còn ở quy mô nhỏ (mẫu điều tra gồm 60 lượt khách qua 02 đợt điền dã), chưa phản ánh toàn diện cơ cấu hành vi tiêu dùng của du khách trong tất cả các tháng cao điểm và thấp điểm trong năm. Đề tài tập trung chủ yếu vào khía cạnh quản lý nhà nước và hiện trạng điểm đến tại xã Xuân Hồng, chưa đi sâu phân tích chuỗi giá trị kinh tế du lịch liên kết vùng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng quy mô mẫu khảo sát định lượng đối với du khách và cộng đồng dân cư địa phương; nghiên cứu sâu hơn về tính liên kết tour tuyến giữa Đền Củi với các điểm du lịch di sản khác trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh và Nghệ An; đánh giá tác động kinh tế - xã hội của Thông tư 04/2023/TT-BTC đối với việc quản lý tiền công đức tại các di tích tâm linh cấp quốc gia.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tư liệu học thuật hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên các ngành Văn hóa học, Quản lý văn hóa, Việt Nam học và Văn hóa Du lịch tham khảo về phương pháp tiếp cận di tích tâm linh dưới góc độ dịch vụ du lịch.
  • Cán bộ quản lý văn hóa, nhân viên ban quản lý di tích tại huyện Nghi Xuân và các địa phương có di tích thờ Mẫu, tín ngưỡng dân gian.
  • Các nhà nghiên cứu quan tâm đến thực trạng chuyển đổi mô hình quản lý di tích và cơ chế thực thi quản lý tài chính công đức theo quy định pháp luật hiện hành.

Câu hỏi thường gặp

1. Đền Củi thờ những nhân vật nào và Quan Hoàng Mười được dân gian xứ Nghệ đồng nhất với ai?
Đền Củi thờ Tam tòa Thánh Mẫu (Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải), Ngũ vị Tôn ông, Quan Hoàng Mười, Chầu Mười và Đức Thánh Trần Triều (Hưng Đạo Đại Vương). Trong tâm thức dân gian xứ Nghệ, Quan Hoàng Mười được đồng nhất với hai nhân vật lịch sử: Chiêu Trưng Đại vương Lê Khôi (vị tướng thời Hậu Lê, cháu vua Lê Lợi) hoặc Uy Minh Vương Lý Nhật Quang (hoàng tử thứ tám của vua Lý Thái Tổ, người từng làm Tri châu Nghệ An).

2. Lễ hội lớn nhất tại Đền Củi diễn ra vào thời gian nào và có những hoạt động gì?
Lễ hội lớn nhất trong năm tại Đền Củi là ngày Giỗ Quan Hoàng Mười vào ngày 10/10 âm lịch. Chương trình gồm phần lễ trang trọng vào buổi sáng và phần hội gồm các hoạt động thể thao (giải bóng chuyền nam, kéo co) cùng chương trình nghệ thuật diễn xướng chầu văn, dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh do các nghệ nhân biểu diễn.

3. Số liệu khách tham quan và nguồn thu tiền công đức tại Đền Củi được ghi nhận như thế nào trong khóa luận?
Năm 2023, Đền Củi đón 178.900 lượt khách (chiếm 27,9% tổng lượt khách du lịch của huyện Nghi Xuân). Từ khi thành lập Ban quản lý năm 2014 đến thời điểm nghiên cứu, tổng nguồn thu công đức đạt 19,4 tỷ đồng (giai đoạn 2014–2022 đạt 17,9 tỷ đồng).

4. Mô hình tổ chức quản lý tại Đền Củi đã có sự thay đổi như thế nào trong giai đoạn 2023–2024?
Trước năm 2023, di tích chịu sự quản lý của Ban Quản lý Di tích Đền Chợ Củi (thành lập năm 2014). Ngày 11/4/2023, UBND tỉnh Hà Tĩnh ban hành Quyết định số 836/QĐ-UBND sáp nhập thành Ban Quản lý dịch vụ công ích và các điểm du lịch huyện Nghi Xuân (Ban CIDL). Đến ngày 08/3/2024, Ban CIDL ban hành Quyết định số 35-CIDL quy định quy chế tổ chức và phân chia thành các bộ phận chuyên môn trực tiếp điều hành di tích.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thị Vân Nam đã làm rõ cơ sở lý luận và thực trạng phát triển du lịch văn hóa tâm linh tại Di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia Đền Củi giai đoạn 2020–2024. Công trình phản ánh khách quan tiềm năng văn hóa, cấu trúc không gian kiến trúc, biến động thị trường khách và các bước chuyển biến trong công tác quản lý tài chính, tổ chức bộ máy tại điểm đến. Hệ thống giải pháp được đề xuất trong khóa luận cung cấp luận cứ thực tiễn thiết thực nhằm hỗ trợ chính quyền địa phương nâng cao hiệu quả khai thác di sản gắn với phát triển du lịch bền vững.