phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về Bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa biển gắn với phát triển du lịch và tổng quan Thành phố Sầm Sơn Chƣơng 2: Thực trạng Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa biển gắn với phát triển du lịch tại thành phố Sầm Sơn Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa biển gắn với phát triển du lịch tại thành phố Sầm Sơn 10 Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO TỒN, PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA BIỂN GẮN VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÀ TỔNG QUAN THÀNH PHỐ SẦM SƠN 1. Một số khái niệm về văn hóa biển và du lịch biển - Khái niệm và thành tố văn hóa biển Khái niệm “văn hóa biển”, “văn hóa biển, đảo” là những khái niệm khoa học mới đã và đang đƣợc sử dụng trong nhiều công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nƣớc. Đó là những minh chứng cụ thể về sự quan tâm của khoa học đa ngành, liên ngành đối với vị trí, vai trò của biển đảo, từ đó có những hƣớng tiếp cận khác nhau.
Văn hóa biển (Marine Culture) đƣợc diễn đạt bằng nhiều thuật ngữ khác nhau nhƣ văn hóa học về biển (Marine Culturology) hay văn hóa biển, đảo (Marine and Island Cultures) hoặc Văn hóa biển, cận duyên và đảo (Marine, Coastal and Island Culture) Đây là vấn đề đang đƣợc giới nghiên cứu trên thế giới quan tâm. Cách hiểu về văn hóa biển hiện nay đƣợc các nhà nghiên cứu phát biểu dƣới nhiều góc độ. Cùng với quá trình tồn tại của đất nƣớc, văn hóa biển Việt Nam đã có từ xa xƣa, rất cần đƣợc tiếp tục nghiên cứu. Do các hoạt động liên quan đến biển là lĩnh vực đƣợc phát triển muộn so với nhiều lĩnh vực khác trong đời sống xã hội và vì vậy tất yếu văn hóa biển là lĩnh vực phát triển muộn và thời gian nghiên cứu chƣa đƣợc nhiều.
Văn hóa biển là văn hóa trong một lĩnh vực cụ thể - lĩnh vực biển. Cũng nhƣ văn hóa nói chung, văn hóa biển gồm cả khía cạnh giá trị văn hóa vật chất và giá trị văn hóa phi vật chất (tinh thần). 11 Có thể hiểu văn hóa biển: “Là hệ thống hóa các giá trị do con ngƣời sáng tạo ra và tích lũy đƣợc trong quá trình tồn tại lấy biển cả làm nguồn sống chính. Văn hóa biển phải thỏa mãn các yếu tố đặc trƣng có tính hệ thống về giá trị nhân văn, tính lịch sử, không gian, môi trƣờng.
Ở Việt Nam, văn hóa biển là một khái niệm khá mới mẻ. Văn hóa biển "là hệ thống hóa các giá trị do con ngƣời sáng tạo ra và tích lũy đƣợc trong quá trình tồn tại, lấy biển cả làm nguồn sống chính. Văn hóa biển phải thỏa mãn các yếu tố đặc trƣng có tính hệ thống về giá trị nhân văn, tính lịch sử, không gian, môi trƣờng. Dƣới góc cạch khác, Ngô Đức Thịnh quan niệm văn hóa biển "là hệ thống tri thức của con ngƣời về môi trƣờng biển, các giá trị và biểu tƣợng rút ra từ những hoạt động sống trong môi trƣờng ấy.
Cùng với nó là những cảm thụ, hành vi ứng xử, những nghi lễ, tập tục, thói quen của con ngƣời tƣơng thích với môi trƣờng biển" [23, tr15]. Khi đề cập đến văn hóa là đề cập đến các giá trị, vì thế văn hóa biển có thể hiểu là tập hợp các giá trị vật chất và tinh thần đƣợc con ngƣời sáng tạo ra và tích lũy dần trong quá trình chung sống với biển. Văn hóa biển của ngƣời Việt có thể nhìn nhận từ phƣơng diện vật chất (chiếm hữu, khai thác, bảo vệ), phƣơng diện tinh thần (yêu biển, hƣớng biển, tƣ duy về biển, các sinh hoạt tinh thần trong mối quan hệ với biển). Một là; Phƣơng diện vật chất;(i) Chiếm hữu - khai thác, Trong quan hệ cộng sinh với biển, từ xa xƣa, ngƣời Việt đã có kỹ thuật làm muối độc đáo, nấu nƣớc biển để cô lấy muối.
Ngƣời Việt còn học cách chƣng cất nƣớc mắm từ các nguồn lợi thủy sinh biển của ngƣời Chăm để từ đó nƣớc mắm đã trở thành yếu tố không thể thiếu trong sinh hoạt ẩm thực của ngƣời Việt. Bên 12 cạnh đó, ngƣời Việt cũng đã tiếp thu kỹ thuật sử dụng và đóng ghe bầu lớn của ngƣời Chăm để đi biển xa. Trong lịch sử, có những vùng biển hết sức trù phú, đó là những thƣơng cảng, các đô thị xƣa gắn với các triều đại phong kiến, mà tiêu biểu là Vân Đồn, phố Hiến, Hội An. Điều này đã minh chứng rằng ngƣời Việt từ rất sớm đã biết hƣớng ra biển để mở rộng giao lƣu buôn bán với bên ngoài.
(ii) Chiếm hữu - bảo vệ. Hai là; Phƣơng diện tinh thần; Lịch sử truyền thống văn hóa biển của ngƣời Việt cổ đƣợc ghi dấu, lƣu giữ trong các tƣ liệu sinh hoạt và lễ hội độc đáo liên quan đến biển của bà con ngƣ dân khắp đất nƣớc. Những sinh hoạt và lễ hội thể hiện tín ngƣỡng của ngƣời Việt nhƣ: thờ các vị thần biển, cầu mong sự yên ổn, làm ăn an lành, thuận lợi, thể hiện ở tục thờ cúng, cầu long vƣơng, thủy thần. Sinh động và thực tế hơn, đó là tục thờ cá voi phổ biến trong cộng đồng cƣ dân ven biển từ Thanh Hóa đến Kiên Giang.
Cá voi là một loài cá ở biển, đƣợc coi là biểu tƣợng của một vị thần hiển linh, luôn gần gũi, cận kề giúp đỡ con ngƣời trƣớc sự huyền bí, nguy hiểm của đại dƣơng nên đƣợc tôn là cá ông. Vì thế, đối với cƣ dân làm nghề biển, cá voi không những đƣợc kính trọng trong tâm tƣởng lúc sống mà khi chết còn đƣợc cƣ dân an táng một cách trang trọng, bài bản với các lễ tiết trang nghiêm. Các lễ hội thể hiện tâm thức cầu an của ngƣời dân biển nhƣ lễ xông mũi thuyền ở làng chài Cửa Vạn - Quảng Ninh, lễ hội cầu ngƣ, lễ hội nghinh ông của dân ven biển Trung Bộ, Nam Bộ. Lễ hội nhằm thỏa mãn nhu cầu gửi gắm niềm tin, mong sóng yên biển lặng, đánh cá bội mùa, góp phần giải tỏa, điều tiết đời sống tâm lý, tinh thần của cá nhân và cộng đồng ngƣ dân, tăng cƣờng sức mạnh cộng đồng.
Có lẽ do sự hạn chế về trình độ và sức sản xuất nên sự chiếm hữu biển buổi đầu của ngƣời Việt hết sức hạn chế. Mọi hoạt động biển của ngƣời Việt thời cổ và trung đại chủ yếu chỉ diễn ra ở vùng ven biển. Có khá nhiều ý kiến 13 đồng thuận rằng, ngƣời Việt đã có sự chiếm lĩnh biển khá sớm, tuy nhiên chỉ là vùng biển ven bờ, biển cận duyên: "Truyền thống biển trong văn hóa của ngƣời Việt là truyền thống biển cận duyên" [11, tr90]. Với cuộc Nam tiến mở mang bờ cõi vào TK XVII, ngƣời Việt mới thực sự nhìn xa ra biển, phát hiện thêm nhiều điều thú vị về biển.
TK XXI đƣợc cho là thế kỷ của đại dƣơng. Các dân tộc đều hƣớng về biển để khai thác nguồn lợi và mở rộng quan hệ thông qua đƣờng biển. Việt Nam sẽ phát triển một nền kinh tế biển, phát huy văn hóa biển cùng thế giới và giàu mạnh lên từ biển nếu biết tận dụng, khai thác nguồn lợi biển, sức mạnh văn hóa biển. Tuy nhiên, tình hình thực tế đang đặt ra không ít những quan ngại từ phía biển.
Chủ quyền biển đảo đất nƣớc đang bị đe dọa, xâm lấn. Sự kiện các tàu hải giám Trung Quốc ngày 26-5-2011 vi phạm chủ quyền lãnh hải của Việt Nam, gây thiệt hại về kinh tế và cản trở hoạt động của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam khiến cho tình hình biển Đông càng thêm căng thẳng. Tàu thuyền Trung Quốc coi thƣờng Công ƣớc luật Biển 1982, ngang nhiên xâm phạm vùng lãnh hải, đánh bắt hải sản và chèn ép sự tự do của ngƣ dân Việt Nam. Trong bối cảnh kinh tế hội nhập, bên cạnh nguồn hàng hóa của ngƣ dân đang phải bán với giá rẻ mạt, môi trƣờng biển còn đang bị xâm hại và xuống cấp nghiêm trọng.
Nạn tràn dầu chƣa rõ nguyên nhân xảy ra gần đây cũng đã để lại những hậu quả không tốt cho môi sinh. Dịch bệnh ở nhiều vùng ven biển xuất hiện do lối sống sinh hoạt thiếu vệ sinh của bà con ngƣ dân, tác động trái chiều của quá trình đô thị hóa biển [8, tr45]. Đặc điểm du lịch biển và đặc trưng cơ bản của văn hóa biển - Đặc trƣng cơ bản của văn hóa biển Khi nói tới đặc trƣng của văn hóa biển ngƣời ta thƣờng nhắc đến bài viết của Nguyễn Thị Hải Lê trong đó nổi bật là bài: Đặc trƣng văn hóa biển của ngƣời Việt. Mặc dù, không nhắc tới khái niệm văn hóa biển nhƣng tác giả đã đƣa ra và phân tích khá rõ n t 5 đặc trƣng cơ bản về văn hóa biển của ngƣời Việt là [11, tr94].
14 - Yếu tố biển xen lẫn yếu tố nông nghiệp, đồng bằng và luôn tồn tại những cặp đối lập, song hành. - Truyền thống biển trong văn hóa của ngƣời Việt là truyền thống biển cận duyên, xét theo trục không gian, chất biển từ nhạt ở miền Bắc, trở nên đậm hơn ở miền Trung và lại ít đi khi vào Nam Bộ, theo trục thời gian, chất biển ngày càng đậm đặc theo tiến trình lịch sử. - Đã tiếp thu truyền thống biển của các dân tộc khác trong quá trình tiếp x c và giao lƣu. - Biểu tƣợng biển thể hiện tâm hồn dân tộc.
Cuối cùng, tác giả kết luận: “Ngƣời Việt sở hữu một nền văn hóa biển” Nói đến văn hóa của ngƣời Việt chính là những tinh hoa văn hóa tốt đẹp đƣợc đ c kết bao đời trở thành di sản văn hóa của dân tộc, trong đó phải kể đến những n t văn hóa biển, những ngƣời sống chết với biển, mƣu sinh từ biển, coi biển là một phần trong đời sống của họ. Những n t văn hóa đó tạo nên tính đa dạng trong văn hóa ngƣời Việt bởi nó không chỉ đơn thuần có văn hóa biển mà còn có sự giao lƣu văn hóa với những n t văn hóa khác của chính nƣớc mình hay sự du nhập của nƣớc bạn. Tính đa dạng của văn hóa biển Việt Nam thể hiện qua việc hầu hết ở các địa phƣơng ven biển đều kết hợp thờ c ng tổ tiên, thờ thần Thành hoàng làng, thờ các hiện tƣợng tự nhiên với thờ các vị thần liên quan tới biển (lễ Cầu Ngƣ, lễ hội Nghinh Ông.