phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có cấu trúc gồm 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cở sở khoa học nghiên cứu du lịch sinh thái. Chƣơng 2: Đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái huyện Mai Châu. Chƣơng 3: Đánh giá hiện trạng du lịch và định hƣớng phát triển du lịch sinh thái huyện Mai Châu. CƠ SỞ KHOA HỌC NGHIÊN CỨU DU LỊCH SINH THÁI 1.
TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH SINH THÁI 1. Lịch sử nghiên cứu du lịch sinh thái a. Trên thế giới Du lịch sinh thái là một loại hình có lịch sử khá lâu đời, song hành với các dạng thức du lịch khác. Hình thức sơ khai của DLST là những hoạt động du lịch gắn liền với thiên nhiên [25], đƣợc miêu tả qua các chuyến thám hiểm của Herodorus, Aristotle, Marco Polo, Ibn Batuta.
Trải qua một giai đoạn dài không đƣợc nghiên cứu và tìm hiểu trong thời kỳ trung cổ, du lịch và các hình thức du lịch gắn với thiên nhiên đƣợc quan tâm trở lại thông qua nhu cầu của con ngƣời và các dự án gắn liền với phát triển du lịch trong thời kỳ Cách mạng Công nghiệp. Tuy nhiên, trong giai đoạn này thì du lịch biển và du lịch núi là hai trào lƣu chính của loại hình du lịch gắn với thiên nhiên. Với loại hình du lịch gắn với mục tiêu bảo vệ môi trƣờng và đảm bảo tính chất ban đầu của tự nhiên thì chƣa đƣợc đề cập tới trong thời kỳ này. Trong nhiều thập kỷ, du lịch trên thế giới đã phát triển rộng rãi và bắt đầu xuất hiện những ảnh hƣởng tiêu cực đến kinh tế, văn hóa – xã hội và đặc biệt là môi trƣờng tại những địa điểm khai thác du lịch.
Vì vậy, xu hƣớng nghiên cứu về vấn đề tính bền vững trong khai thác du lịch đang đƣợc các nhà nghiên cứu về du lịch trên thế giới quan tâm, đặc biệt là gắn liền với môi trƣờng. Đi đầu nghiên cứu trong lĩnh vực này phải kể đến một số công trình: Budowski “Tourism and Environmenttal Consevervation: Conflict, Coexistence or Symbiosis?” (1976); Tangi, Mathieson&Wall “Tourism: Physical Environmental, economic and Social impacts” (1982); Lea “Tourism an development in the Third World” (1988); Buckley&Pannell “Environmental impacts of tourism and recreation in national parks and conservation reserves” (1990); thuật ngữ “DLST” đƣợc Hector Ceballos - Lascurain chính thức đƣa ra vào năm 1987 và ngay lập tức đã phát triển nhanh chóng và rộng khắp. Sự ra đời của Hiệp hội DLST quốc tế (TIES) ba năm sau đó (1990) bƣớc đầu khẳng định vị thế của DLST với tƣ cách là 3 z một hệ thống lý luận và thực tiễn về phát triển bền vững trong du lịch. Trong tuyên ngôn của mình, Hiệp hội DLST thế giới đã khẳng định sứ mạng của mình là “liên kết sự cộng tác của hơn 90 quốc gia thành viên và hơn 40 tổ chức DLST quốc tế và khu vực, có vai trò quan trọng toàn cầu trong việc truyền bá tri thức, hỗ trợ hoạt động bảo tồn, truyền thông và phát triển bền vững trong ngành du lịch”.
DLST nói riêng và các loại hình du lịch thay thế nói chung mới thực sự đƣợc chú ý khi nhân loại đứng trƣớc những tác động tiêu cực ngày càng rõ rệt của du lịch ồ ạt vào đầu thế kỉ XX. Tiếp bƣớc những nghiên cứu của một số nhà khoa học nhƣ Kerg Lindberg, Donal E. Hawkins, Elizabeth Boo, Hetor Ceballos-Lascuirain, Megan Epler Wood, Buckley và L.Hens, DLST nhận đƣợc sự quan tâm nhiều hơn từ phía các tổ chức thế giới. Đáng chú ý nhƣ Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO), Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN), Quỹ bảo tồn động vật hoang dã thế giới (WWF).
Sở dĩ có đƣợc mối quan tâm đó một phần là nhờ nỗ lực bảo vệ môi trƣờng đƣợc Liên Hợp Quốc đề ra trong Hội nghị về môi trƣờng sống của con ngƣời tại Stockholm-1972 (Thụy Điển) và Hội nghị Thƣợng đỉnh Trái đất tại Rio De Janero-1992 (Brazil). Craig-Smith & French “Learning to Live with tourism” (1994); Shaw & Williams “Critial Issues in Tourism” (1994); Pagdin “Assessing Tourism impact in the third world: A Nepal Case Study, Progress in Planning” (1995); Shah “Economic of Third World National parks: Issues of Tourism and Environment management” (1995); Simpson&Wall “Enviroment Impact Assessment for tourism: a discussion and an Indonesian Example” & “Contempotary Issues in tourism development” (1999). Các tác giả này, với các nghiên cứu của mình, đều đi đến thống nhất là cần có một loại hình du lịch nhạy cảm và có trách nhiệm với môi trƣờng, đó chính là DLST. Từ cấp độ quốc gia và khu vực, DLST phát triển mạnh mẽ trên quy mô toàn cầu, đánh dấu bằng sự kiện Đại hội đồng Liên Hợp Quốc (LHQ) chọn năm 2002 là “Năm Quốc tế Du lịch Sinh thái”.
Tại hội nghị của LHQ, các quốc gia đã ghi nhận giá trị quan trọng toàn cầu của DLST, những lợi ích cũng nhƣ các ảnh hƣởng của 4 z DLST đối với vấn đề bảo vệ môi trƣờng. Kết quả của Hội nghị này là tuyên bố Quebec về DLST (Canada). Roberto López-Espinosa de los Montero trong “Đánh giá vai trò của du lịch sinh thái trong các khu bảo tồn thiên nhiên ở La Paz Bay, Baja California Sur, Mexico: Du lịch sinh thái hay du lịch dựa vào tự nhiên?” [30] đƣợc hoàn thành vào năm 2002. Đóng góp của dự án này chính là đƣa ra cơ sở lý luận về vai trò của du lịch trong các khu bảo tồn và vƣờn quốc gia, bên cạnh đó không thể thiếu chính là cơ sở để khai thác nguồn tài nguyên du lịch trong các khu bảo tồn: du lịch tham quan, du lịch sinh thái,.
Từ những phân tích sâu về du lịch sinh thái và những ảnh hƣởng của loại hình này tới tự nhiên mà các nhà khoa học đã nhấn mạnh vấn đề “bền vững” gắn với hoạt động du lịch đặc biệt là các loại hình du lịch trong các khu bảo tồn, vƣờn quốc gia. Với cơ sở lý luận đạt đƣợc nhƣ vậy thì nghiên cứu này còn đƣợc mở rộng ra nhiều quốc gia khác trên thế giới, trong đó phải kể tới nghiên cứu tại phía Bắc của Thái Lan do nhà khoa học ngƣời Ireland thực hiện và hoàn thành năm 2013. Năm năm sau đó (năm 2007), Hội nghị DLST quốc tế tại Oslo (Nauy) đã tổng kết những thành công, hạn chế cũng nhƣ thách thức của hoạt động DLST trên quy mô thế giới và đƣa ra khuyến nghị về 4 lĩnh vực: phát triển bền vững, bảo tồn, giáo dục và truyền thông và những vấn đề nhạy cảm của DLST. Những năm gần đây thì nghiên cứu về vấn đề này lại ngày càng đƣợc đề cao: Campbell, W.
Bruce, López Ortíz, Silvia trong dự án “Lồng ghép sản xuất nông nghiệp với vấn đề bảo tồn và du lịch sinh thái trong sự ảnh hƣởng của xã hội” đƣợc công bố năm 2012. Bên cạnh việc phân tích các yếu tố trong quá trình sản xuất nông nghiệp, hay những hoạt động trong công tác bảo tồn các hệ sinh thái cộng thêm việc đi sâu nghiên cứu các hoạt động từ du lịch gây ảnh hƣởng thế nào tới môi trƣờng, tự nhiên , con ngƣời và xã hội từ đó dự án đã tìm ra một số ”lỗ hổng” trong công tác quản lý cũng nhƣ một số ảnh hƣởng gây ra cho cuộc sống hằng ngày của con ngƣời từ đó đã đề xuất một số hƣớng để giải quyết vấn đề đó [26]. Một nghiên cứu khác cũng xoay quanh vấn đề Du lịch – Cộng đồng – Môi trƣờng là: Nhận thức của ngƣời dân địa phƣơng về tác động và tầm quan trọng của du 5 z lịch sinh thái trong Sabang, Palawan, Philippines của tác giả Jeffrey O. Jalani ngƣời Philippin.
Nghiên cứu này đi sâu xem xét các tác động của du lịch sinh thái với cộng đồng địa phƣơng về sinh kế của ngƣời dân, qua đó tăng cƣờng các hoạt động mang tính tích cực với môi trƣờng và kinh tế của ngƣời dân xung quanh đồng thời đƣa ra giải pháp khắc phục các tác động tiêu cực do hoạt động du lịch sinh thái gây ra. Hƣởng ứng lời kêu gọi của LHQ về bảo vệ môi trƣờng và phát triển du lịch bền vững, hơn 90 quốc gia thành viên của Tổ chức DLST thế giới (TIES) đã tham gia vào Thỏa ƣớc Oslo (gọi tắt là GEC07). Nhiều nƣớc nhƣ Mexico, Úc, Malayxia, Ecuado, Costa Rica. đã xây dựng chiến lƣợc và kế hoạch DLST quốc gia.
Một số nƣớc nhƣ Ecuado, Brazil, Úc, Kenya, Estonia, Inđonexia, Venezuela. đã thành lập hiệp hội DLST cấp quốc gia để hoạch định chính sách và kiểm soát hoạt động DLST nƣớc mình, đồng thời là cầu nối chính thức với các tổ chức quốc tế có liên quan. Việt Nam Ở Việt Nam, DLST cũng mới bắt đầu nghiên cứu từ giữa thập kỷ 90 của thế kỷ XX, tuy nhiên đã thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu về du lịch, môi trƣờng: Phạm Trung Lƣơng “Đánh giá tác động môi trƣờng du lịch ở Việt Nam” (1997); Vũ Tuấn Cảnh “Quy hoạch tổng thể du lịch Việt Nam với chiến lƣợc quản lý tài nguyên và môi trƣờng” (1997); Nguyễn Ngọc Khánh, Phạm Hoàng Hải & Phạm Trung Lƣơng “Đánh giá tác động môi trƣờng cho phát triển du lịch Quảng Ninh” (1998); Hens.L “Sustainable tourism and environment impact assessment” – Proceedings of the first workshop on training in Environmental Impact Assessmen (1997); Nguyễn Bá Thụ & Nguyễn Hữu Dũng “Bảo tồn và phát triển các VQG với hoạt động phát triển DLST” (1998). Điều này cho thấy sự quan tâm đến môi trƣờng trong hoạt động du lịch đang ngày càng trở nên bức thiết.
Nhiều hội thảo cũng đã đƣợc tổ chức để thảo luận các vấn đề về phát triển DLST với sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu và những ngƣời có liên quan. Trong đó, Hội thảo Quốc tế về DLST với phát triển DLBV ở Việt Nam do Tổng cục Du lịch Việt Nam kết hợp với Quỹ Hanns Seidel (CHLB Đức) tổ chức tại Huế (tháng 5/1997), các vấn đề DLST, du lịch với môi trƣờng đƣợc nhiều nhà nghiên cứu trong nƣớc và 6 z quốc tế quan tâm thảo luận (Gray, J. “Phát triển du lịch sinh thái trên cơ sở cộng đồng”; Cao Văn Sung “Tiềm năng du lịch sinh thái ở Việt Nam”; Phạm Trung Lƣơng “DLST ở VIệt Nam: Những triển vọng và thách thức đối với sự phát triển”.