mở đầu thuận lợi cho các bước tiếp theo trong quá trình thúc đẩy sự phát triển của du lịch sinh thái Việt Nam nói riêng và du lịch bền vững nói chung. Tuy nhiên, du lịch sinh thái thực tế chỉ là một hướng phát triển của du lịch bền vững nói chung. Việc tập trung nghiên cứu du lịch sinh thái và các quy luật phát 12 triển của nó không thể đề cập hết được các quy luật phát triển chung của du lịch bền vững. Tài nguyên du lịch sinh thái Tài nguyên du lịch sinh thái phong phú và đa dạng, trong đó có nhiều tài nguyên đặc sắc có sức hấp dẫn lớn.
Là một bộ phận quan trọng của tài nguyên du lịch chủ yếu được hình thành từ tự nhiên, mà bản thân tự nhiên lại rất đa dạng và phong phú, vì thế tài nguyên du lịch sinh thái cũng có những đặc điểm này. Có nhiều hệ sinh thái đặc biệt, nơi sinh trưởng, tồn tại và phát triển nhiều loại sinh vật đặc hữu quý hiếm, thậm chí có những loài sinh vật có nguy cơ bị tuyệt chủng được xem là những tài nguyên du lịch đặc sắc, có sức hấp dẫn lớn đối với du khách. Tài nguyên du lịch sinh thái thường rất nhạy cảm với các tác động. So với nhiều dạng tài nguyên du lịch khác, tài nguyên du lịch sinh thái thường rất nhạy cảm đối với các tác động của con người.
Sự thay đổi tính chất của một số hợp phần tự nhiên hoặc sự suy giảm hay mất đi của một số loài sinh vật cấu thành nên hệ sinh thái nào đó dưới tác động của con người sẽ là nguyên nhân làm thay đổi, thậm chí mất đi hệ sinh thái đó và kết quả là tài nguyên du lịch sinh thái sẽ bị ảnh hưởng ở những mức độ khác nhau. Tài nguyên du lịch sinh thái có thời gian khai thác khác nhau, trong các tài nguyên du lịch sinh thái, có loại có thể khai thác được hầu như quanh năm, song cũng có loại việc khai thác phụ thuộc ít nhiều vào thời vụ. Sự lệ thuộc này chủ yếu dựa theo quy luật diễn biến của khí hậu, của mùa di cư, sinh sản các loài sinh vật, đặc biệt là các loài đặc hữu quý hiếm. Như vậy, để khai thác có hiệu quả tài nguyên du lịch sinh thái, các nhà quản lý, tổ chức điều hành cần có những nghiên cứu cụ thể về tính mùa của các loại tài nguyên để làm căn cứ đưa ra các giải pháp thích hợp.
Tài nguyên du lịch sinh thái thường nằm xa các khu dân cư và được khai thác tại chỗ để tạo ra sản phẩm du lịch. Một đặc điểm có tính đặc trưng của tài nguyên du lịch sinh thái là chúng thường nằm xa các khu dân cư bởi chúng sẽ nhanh chóng bị suy giảm, biến đổi, thậm chí không còn nữa do tác động trực tiếp của người dân như: săn bắn, chặt cây,…nhằm thỏa mãn nhu cầu cuộc sống của mình. Điều này giải thích tại sao phần lớn tài nguyên du lịch sinh thái lại nằm trong phạm vi các vườn quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên, nơi có sự quản lý chặt chẽ. 13 Khác với nhiều loại tài nguyên khác, sau khi được khai thác có thể vận chuyển đi nơi khác để chế biến tạo ra sản phẩm rồi lại đưa đến nơi tiêu thụ, tài nguyên du lịch nói chung, tài nguyên du lịch sinh thái nói riêng được khai thác tại chỗ để tạo ra các sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu của du khách.
Trong một số trường hợp thực tế có thể tạo ra những môi trường giống như môi trường tự nhiên với các vườn thực vật, công viên để du khách tham quan nhưng đây chưa phải là sản phẩm của du lịch sinh thái đích thực, thường chúng được tạo ra trong các đô thị, các thành phố lớn, nhằm phục vụ cho số người dân ít có điều kiện về với các khu tự nhiên. Do những đặc điểm trên nên để khai thác có hiệu quả tài nguyên, du lịch sinh thái cần phải xây dựng cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống giao thông tiếp cận với những vùng giàu tài nguyên. Tài nguyên du lịch sinh thái có khả năng tái tạo và sử dụng lâu dài; phần lớn các tài nguyên du lịch, trong đó có tài nguyên du lịch sinh thái được xếp vào nhóm tài nguyên có khả năng tái tạo, sử dụng lâu dài. Điều này dựa trên khả năng tự phục hồi, tái tạo của tự nhiên.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy có nhiều tài nguyên du lịch sinh thái đặc sắc như các loài sinh vật quý hiếm hoàn toàn có thể mất đi do tự nhiên hoặc do tác động của con người. Vấn đề đặt ra là, cần phải nắm được quy luật của tự nhiên lường trước được những tác động của con người đối với tự nhiên nói chung, tài nguyên du lịch sinh thái nói riêng để có những định hướng, giải pháp cụ thể khai thác hợp lý, có hiệu quả, không ngừng bảo vệ tôn tạo và phát triển các nguồn tài nguyên vô giá này. Đây là yêu cầu sống còn của du lịch nhằm góp phần thực hiện chiến lược phát triển du lịch bền vững. Chỉ có phát triển du lịch bền vững mới đảm bảo cho nguồn tài nguyên du lịch sinh thái ít bị tổn hại, nhằm thỏa mãn nhu cầu phát triển du lịch hiện tại mà còn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch nói chung, du lịch sinh thái nói riêng trong tương lai.
Các hệ sinh thái điển hình và đa dạng sinh học: - Hệ sinh thái rừng nhiệt đới, gồm có: Hệ sinh thái rừng rậm nội chí tuyến gió mùa ẩm thường xanh (hệ sinh thái rừng ẩm nhiệt đới); Hệ sinh thái rừng rậm gió mùa thường xanh trên núi đá vôi (hệ sinh thái Karst); Hệ sinh thái Savan nội chí tuyến gió mùa khô (hệ sinh thái rừng Savan); Hệ sinh thái rừng khô hạn (hệ sinh thái núi cao và hệ sinh thái đất ngập nước); Hệ sinh thái rừng gặp mặn ven biển; Hệ sinh thái đầm lầy nội địa; Hệ sinh thái sông, hồ; Hệ sinh thái đầm phá (hệ sinh thái san hô, cỏ biển, hệ sinh thái vùng cát ven biển, hệ sinh thái biển, đảo và hệ sinh thái nông nghiệp). 14 Các tài nguyên du lịch sinh thái đặc thù: miệt vườn, sân chim, cảnh quan tự nhiên… - Miệt vườn: Đây là một dạng đặc biệt của hệ sinh thái nông nghiệp. Miệt vườn là các khu chuyên canh trồng cây ăn quả, trồng hoa, trồng cây cảnh…rất hấp dẫn đối với khách du lịch. Tính cách sinh hoạt của cộng đồng người dân nơi đây pha trộn giữa tính cách người nông dân và người tiểu thương.
Đặc điểm này đã hình thành nên những giá trị văn hoá bản địa riêng gọi là “Văn minh miệt vườn” và cùng với cảnh quan vườn tạo thành một dạng tài nguyên du lịch sinh thái đặc sắc. - Sân chim: Là một hệ sinh thái đặc biệt ở những vùng đất rất rộng từ vài hecta đến vài trăm hecta, hệ thực vật phát triển, khí hậu thích hợp với điều kiện sống hoặc di cư theo mùa của một số loài chim. Thường đây cũng là nơi cư trú hoặc di cư của nhiều loài chim đặc hữu, quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng. Bởi vậy, các sân chim cũng thường được xem là một dạng của du lịch sinh thái đặc thù có sức hấp dẫn lớn đối với khách du lịch.
- Cảnh quan tự nhiên: Là sự kết hợp tổng thể các thành phần tự nhiên, trong đó địa hình, lớp phủ thực vật và sông nước đóng vai trò quan trọng để tạo nên yếu tố thẩm mỹ hấp dẫn khách du lịch. - Văn hóa bản địa: Các giá trị văn hoá bản địa thường được khai thác với tư cách tài nguyên du lịch sinh thái bao gồm: + Phương thức canh tác, khai thác, bảo tồn và sử dụng các loài sinh vật phục vụ cuộc sống của cộng đồng. + Đặc điểm sinh hoạt văn hoá với các lễ hội truyền thống. + Kiến trúc dân gian, công trình gắn với các truyền thuyết, đặc điểm tự nhiên của khu vực.
+ Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ gắn liền với cuộc sống cộng đồng. Các di tích lịch sử văn hoá, khảo cổ gắn liền với lịch sử phát triển, tín ngưỡng của cộng đồng. Phát triển bền vững “Phát triển bền vững” là một khái niệm rất mới, nó phản ánh xu thế của thời đại và định hướng tương lai của nhân loại. Các tổ chức nghiên cứu kinh tế, môi trường khác 15 nhau cũng đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về phát triển bền vững.
Năm 1987, Uỷ ban thế giới về Môi trường và phát triển đã công bố báo cáo: Tương lai chung của chúng ta, báo cáo này đã đề cập và phân tích mối quan hệ chặt chẽ giữa môi trường và phát triển. Trong đó “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng những nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn thương đến khả năng của những thế hệ tương lai”. Như vậy, phát triển bền vững là quá trình có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hoà giữa ba mặt: Phát triển kinh tế, Phát triển xã hội và Bảo vệ môi trường. Tiêu chí căn bản để đánh giá sự phát triển bền vững là tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống.
Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển bền vững được khẳng định tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần (thứ IX) của Đảng: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”. Quan điểm này được tiếp tục khẳng định và cụ thể hoá tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần (thứ X) của Đảng:“Phát triển nhanh đi đôi với nâng cao tính bền vững, hai mặt tác động lẫn nhau, được thể hiện ở cả tầm vĩ mô và vi mô, ở cả tầm ngắn hạn và dài hạn. Tăng trưởng về số lượng phải đi đôi với nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế…Phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, phát triển toàn diện con người. Thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội…Phải rất coi trọng, bảo vệ và cải thiện môi trường ngay trong từng bước phát triển”.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần (thứ XII) của Đảng tiếp tục khẳng định “Bảo đảm phát triển nhanh, bền vững trên cơ sở ổn định kinh tế vĩ mô và không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh. Phát triển hài hòa giữa chiều rộng và chiều sâu, chú trọng phát triển chiều sâu; phát triển kinh tế tri thức, kinh tế xanh.