chương 1, điều 10 định nghĩa: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong thời gian nhất định” [32]. Như vậy, hầu hết các khái niệm này đều cho thấy du lịch là hoạt động ngoài nơi cư trú thường xuyên của con người, nhằm mục đích không phải để kiếm sống. Du lịch làng nghề Theo Phạm Trung Lương, Viện nghiên cứu phát triển Du lịch nhận định: “Du lịch làng nghề là loại hình du lịch văn hoá tổng hợp đưa du khách tới tham quan, thẩm nhận các giá trị văn hoá và mua sắm những hàng hoá đặc trưng của làng nghề trên khắp mọi miền đất nước”. Như vậy, du lịch làng nghề là loại 18 hình du lịch khai thác các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể.
Các sản phẩm của các làng nghề được tạo ra như một đối tượng tài nguyên du lịch có giá trị, được khai thác để phục vụ cho nhu cầu vui chơi, giải trí, nghiên cứu tìm hiểu văn hóa, tham quan du lịch hoặc tham gia vào các công đoạn sản xuất sản phẩm đặc trưng của làng nghề đó. Nó không chỉ mang lại lợi ích kinh tế cho địa phương và đất nước mà còn góp phần tôn vinh, bảo tồn giá trị truyền thống văn hóa của dân tộc [29]. Du lịch làng nghề được khai thác một cách bài bản, chuyên nghiệp, sẽ là phương tiện giao lưu, quảng bá văn hóa, đất nước, con người Việt Nam một cách sâu rộng và có hiệu quả, góp phần tôn vinh, bảo tồn và giới thiệu rộng rãi các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Du lịch làng nghề góp phần thúc đẩy sự phát triển của hệ thống kết cấu hạ tầng các làng nghề.
Du lịch làng nghề được quảng bá và thị trường các sản phẩm của làng nghề được mở rộng sẽ nâng cao thu nhập của cư dân làng nghề, mang lại lợi ích kinh tế không nhỏ cho làng nghề và cho địa phương có làng nghề. Du lịch làng nghề truyền thống là loại hình du lịch văn hoá mà qua đó khách du lịch được thẩm nhận các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể có liên quan mật thiết đến một làng nghề cổ truyền của một dân tộc nào đó. Làng nghề truyền thống được xem như một dạng tài nguyên du lịch nhân văn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi các sản phẩm du lịch làng nghề luôn bao hàm trong nó cả những giá trị vật thể và phi vật thể. Loại hình du lịch này diễn ra tại các làng nghề còn đang hoạt động sản xuất các sản phẩm truyền thống nhằm mục tiêu tìm hiểu, chiêm ngưỡng, thưởng thức về làng nghề và quá trình sản xuất sản phẩm truyền thống.
Đây là một hoạt động kinh doanh tại các làng nghề có lợi ích về nhiều mặt: Nâng cao hiểu biết của khách du lịch về lịch sử hình thành và phát triển của làng nghề góp phần tăng thêm tình yêu quê hương đất nước; mang lại lợi ích kinh tế cho xã hội [29]. 19 Từ đó chúng ta thấy rằng, du lịch làng nghề truyền thống có những đặc điểm cơ bản như sau: Điểm đến là một làng nghề truyền thống đã và đang hoạt động sản xuất các sản phẩm thủ công truyền thống. Điểm hấp dẫn của du lịch làng nghề là khách du lịch được tìm hiểu về lịch sử hình thành và các đặc điểm của làng nghề, cũng như tìm hiểu về những đặc điểm riêng của những sản phẩm thủ công truyền thống tại làng nghề. Dịch vụ du lịch làng nghề hỗ trợ cho việc phát triển kinh tế của các hộ làng nghề cũng như sự phát triển kinh tế của địa phương.
Góp phần bảo tồn văn hoá truyền thống của làng nghề và các Nghề truyền thống. Du lịch làng nghề góp phần giáo dục cho nhân dân về lịch sử dân tộc và nâng cao tình yêu đối với quê hương đất nước. Lý thuyết nghiên cứu Lý thuyết sinh thái văn hóa (Cultural ecology) Môi trường sinh thái dù dưới góc độ nào cũng đều tác dộng đến khả năng thích ứng của con người, tạo nên đặc trưng văn hóa vùng miền. Lý thuyết sinh thái văn hóa nổi bật với cách tiếp cận nghiên cứu sự tương tác giữa tự nhiên và văn hóa gắn liền với tên tuổi của Julian Steward (1902 — 1972) - nhà nghiên cứu văn hóa nổi tiếng người Mỹ, ông đã đặt nền mống cho thuyết sinh thái văn hóa.
Ông quan niệm nghiên cứu sinh thái văn hóa - phân tích mối quan hệ giữa một nền văn hóa và môi trường của nó. Mục đích là tìm hiểu những biến đổi xã hội bên trong mang tính chất tiến hóa phải bắt đầu từ sự thích nghi với môi trường để biến thành một nền văn hóa tĩnh. Khái niệm “loại hình văn hóa” đóng vai trò quan trọng trong lý luận của Steward, nó được định nghĩa như là một tập hợp những nét tạo nên hạt nhân của nền văn hóa. Những nét này nảy sinh như hậu quả thích nghi của nền văn hóa đối với môi trường và xác định trình độ hòa nhập giống nhau của chúng.
Hạt nhân văn hóa là tập hợp những đặc 20 điểm gắn liền một cách trực tiếp nhất với những hoạt động sản xuất ra những phương tiện [26]. Lý thuyết sinh thái văn hóa đề cập đến hành vì con người sử dụng văn hóa để thích nghi vớì môi trường thiên nhiên cụ thể trong bổi cảnh nền văn hóa của họ. Con người thích ứng với sinh thái tự nhiên tại chỗ để sinh tồn. Steward nêu ra việc hình thành các vùng văn hóa theo sự thích ứng, môi trường sinh thái và lịch sử phát triển của chúng.
"Nhân học sinh thái là sự tương tác giữa tự nhiên và văn hóa. Nghiên cứu sinh thái văn hóa là phân tích mối quan hệ giữa một nền văn hóa và môi trường của nó. Mục đích là để tìm hiểu những biến đổi xã hội bên trong mang tính chất tỉến hóa bắt đầu từ sự thích nghi với môi trường để biến thành một nền văn hóa. Vận dụng lý thuyết này để nghiên cứu mối quan hệ giữa văn hóa với môi trường, trong đó thể hiện sự tương tác của môi trường văn hóa và sự tác động ngược lại của văn hóa với cách con người tác động đến môi trường tự nhiên”.
Sinh thái văn hóa là quá trình tộc người thích ứng với môi trường tự nhiên xung quanh, cùng với môi trường xã hội, sinh thái văn hóa của một tộc người còn là sự nhận thức về thế giới quan, phương thức sản xuất, cách thức sinh hoạt, cấu trúc xã hội, tín ngưỡng, tôn gỉáo, phong tục tập quán. Trong luận văn này, học viên tiếp cận lý thuyết sinh thái văn hóa của Julian Steward để tìm hiểu yếu tố biến đổi ảnh hưởng đến đời sống của người Việt tại đảo Phú Quốc. Môi trường sinh thái nơi đây đã tác động đến các hoạt động kinh tế, cư trú, tín ngưỡng, phong tục tập quán. và con người đã thích nghi, cải tạo tự nhiên dựa trên vốn văn hóa mà họ có để đảm bảo được đời sống của cộng đồng trong thời gian định cư ở đảo.
Hiện nay, tuy mức độ lệ thuộc vào tự nhiên đã giảm dần, con người đã chủ động ứng phó với các biến đổi của tự nhiên nhưng việc tận dụng môi trường tự nhiên đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc sinh tồn của con người. 21 Thuyết lựa chọn duy lý (Rational Choice Theory) Thuyết lựa chọn duy lý trong xã hội học có nguồn gốc từ triết học, kinh tế học và nhân học vào thế kỷ VIII, XIX. Lý thuyết này tập trung vào yếu tố quyết định sự lựa chọn cá nhân vì nó cho rằng con người luôn hành động có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn những gì có lợi nhất cho mục đích của mình, việc đó luôn được con người cân nhắc lựa chọn để đánh giá mức độ phù hợp với bản thân [56]. Chúng tôi nhận thấy Phú Quốc là địa bàn nghiên cứu có nhiều sự thay đổi và biến động do ảnh hưởng của những vấn đề xã hội như các chính sách, phát triển biển đảo.
điều này đã tác động rất lớn đến đời sống cư dân nơi đây, vì thế họ sẽ phải có những sự cân nhắc, lựa chọn nhằm đảm bảo cho việc mưu sinh. Thuyết lựa chọn duy lý nhấn mạnh đến sự lựa chọn các phương tiện, cách thức hành động để đạt được lợi ích tối đa với chi phí tối thiểu. Vì thế trong nội dung luận văn này, học viên áp dụng thuyết lựa chọn duy lý để lý giải những hành vi ứng xử của cư dân Phú Quốc trong hoạt động kinh tế, đời sống tâm linh và đời sống xã hội ở bối cảnh hiện nay. Đặc điểm của làng nghề truyền thống Việt Nam Làng nghề truyền thống có những đặc điểm chính sau: Hoạt động làng nghề truyền thống gắn liền với làng nghề và sản xuất nông nghiệp Xuất phát từ nhu cầu tiêu dùng của xã hội, các nghề truyền thống dần dần xuất hiện với tư cách là nghề phụ, việc phụ trong các gia đình nông dân và nhanh chóng phát triển ở nhiều làng nghề.
Thời gian người lao động ở làng quê dành cho hoạt động sản xuất nông nghiệp (do ruộng đất bình quân thấp, đặc điểm mùa vụ của cây trồng), năng suất lao động nông nghiệp thấp không đảm bảo thu nhập đủ sống cho người nông dân. Vì vậy, nhu cầu tạo việc làm để có thêm thu nhập ngoài sản xuất nông nghiệp trở thành cấp thiết. Đồng thời, do tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp đã tạo ra sự thừa lao động trong một thời gian nhất định, 22 trong khi đó tại địa phương có nhu cầu về sản phẩm tiểu thủ công nghiệp để phục vụ tiêu dùng, sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, nguồn nguyên liệu phục vụ cho các nghề thủ công lại khá dồi dào… vì thế thúc đẩy các hoạt động của tiểu thủ công nghiệp, ban đầu phục vụ nhu cầu của gia đình mang tính tự sản xuất, tự tiêu dùng, sau phát triển có quy mô nhiều gia đình cùng tham gia và như vậy làng Nghề truyền thống hình thành và phát triển. Có truyền thống lâu đời Theo các tư liệu lịch sử, thời Phùng Nguyên khoảng năm 3000 trước công nguyên, người Việt đã phát minh và sáng chế ra hầu hết các kỹ thuật chế tác một số công cụ như đồ đá, đồ gốm,… Thời Đông Sơn, từ năm 3000 đến 258 trước công nguyên, người Việt đã phát minh ra công thức luyện đồng thau, đồng thanh và đúc được trống đồng Đông Sơn, sản phẩm chứng minh cho nghề truyền thống thời bấy giờ.