chương I thì “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến” [10]. Tại điều 34, chương V qui định: “Khách du lịch gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế. Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú ở Việt Nam ra nước ngoài du lịch” [10].
Khu du lịch Là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về tài nguyên du lịch tự nhiên, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Điểm du lịch Là những nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch. Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch gồm các tiện nghi lưu trú, ăn uống, các tiện nghi thể thao vui chơi giải trí, phương tiện vận chuyển và các tiện nghi phục vụ du lịch khác.
Do vậy mà cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch là một trong những thành phần quan trọng nhất của sản phẩm du lịch, là tiêu chí cho sự lựa chọn của du khách, là yếu tố tạo nên sự độc đáo khác biệt của sản phẩm du lịch, tạo dựng hình ảnh riêng cho một điểm du lịch. Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch Giao thông: Đối với sự phát triển KT-XH nói chung và du lịch nói riêng, mạng lưới giao thông và phương tiện giao thông luôn được coi là những yếu tố quan trọng hàng đầu vì nó có vai trò đẩy mạnh hoạt động du lịch. Du lịch luôn gắn với sự di chuyển của con người từ nơi này đến nơi khác, vì vậy nó phụ thuộc nhiều vào mạng lưới và phương tiện giao thông. Mỗi loại hình giao thông đều có những đặc điểm riêng biệt và ảnh hưởng trực tiếp tới hành vi tiêu dùng trong du lịch của khách.
Hơn nữa, sự thuận tiện về mạng lưới giao thông còn cho phép khai thác các nguồn tài nguyên du lịch. Chỉ có thông qua mạng lưới giao thông thuận tiện, nhanh chóng thì du lịch mới trở thành hiện tượng phổ biến trong xã hội. Giao thông là một bộ phận của kết cấu hạ tầng kinh tế, nhưng cũng có các phương tiện được sản xuất phục vụ chủ yếu cho nhu cầu du lịch (tầu thuỷ, máy bay chuyên dụng, cáp treo, máng trượt). Thông tin liên lạc là một phần quan trọng trong CSHT của hoạt động du lịch, là điều kiện cần thiết để đảm bảo giao lưu cho du khách trong nước và quốc tế.
Chính sự thuận lợi của các mạng lưới giao thông và phương tiện giao thông góp phần vào việc thực hiện các mối giao lưu giữa các vùng, các nước. Không những thế, sự thuận tiện của mạng lưới thông tin liên lạc còn giúp cho việc giao dịch trong kinh doanh du lịch được thông suốt, nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu, khiến cho hoạt động du lịch trở nên phổ biến hơn, hiệu quả cao hơn. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hệ thống cấp điện và cấp thoát nước đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của khách. Ngoài ra, các sản phẩm của chúng phục vụ trực tiếp cho việc nghỉ ngơi giải trí của khách.
Xã hội càng phát triển, các phương tiện phục vụ cuộc sống càng hiện đại thì nhu cầu về điện càng lớn. Hoạt động du lịch, một hoạt động của con người mang tính hưởng thụ, nghỉ ngơi, giải trí, để tái sản xuất sức lao động thì nhu cầu về điện là rất lớn và hiển nhiên, kể cả đối với những loại hình du lịch ít đòi hỏi tiện nghi nhất như DLST. Hệ thống cấp và thoát nước: Nhu cầu về nước sạch của khách du lịch trong các chuyến đi là rất lớn. Hơn thế nữa, các điểm du lịch thường lại ở xa các khu đô thị lớn nên đòi hỏi phải có hệ thống cấp nước sạch với mạng lưới đường ống phát triển mới đủ đáp ứng nhu cầu của khách.
Bên cạnh đó, hoạt động du lịch cũng thải ra môi trường một lượng nước thải khá lớn với những hoá chất có hại cho môi trường. Điều này có thể dẫn đến suy thoái môi trường ở tại và xung quanh các điểm du lịch, làm hỏng môi trường và cảnh quan của KDL và làm ảnh hưởng đến môi trường sống của dân cư địa phương. Một hệ thống thoát nước hợp lý với các trạm xử lý nước thải đúng công suất là giải pháp gần như duy nhất cho vấn đề này. Như vậy có thể nói, kết cấu hạ tầng hoàn hảo chính là đòn bẩy cho các hoạt động kinh tế, trong đó có hoạt động du lịch và là điều kiện quan trọng cho PTBV KT- XH nói chung và du lịch nói riêng[14].
Lao động trong du lịch Trong hoạt động du lịch, chất lượng đội ngũ lao động luôn là yếu tố quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển. Điều này càng trở nên cấp thiết trong bối cảnh canh tranh gay gắt của hoạt động du lịch. Chất lượng đội ngũ lao động là nhân tố quan trọng trong việc quyết định chất lượng sản phẩm du lịch, chất lượng dịch vụ và kết quả cuối cùng là ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh, đến sự tăng trưởng du lịch đứng từ góc độ kinh tế. Như vậy, chất lượng cao của đội ngũ lao động không chỉ là yếu tố thu hút khách, nâng cao uy tín, hình ảnh du lịch điểm đến mà còn là yếu tố quan trọng trong cạnh tranh thu hút khách, đảm bảo sự phát triển du lịch bền vững và được coi là một trong những dấu hiệu quan trọng để nhận biết sự PTBV của du lịch.
14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Doanh thu du lịch Cũng như các ngành kinh tế khác, sự phát triển của du lịch được đánh giá thông qua sự gia tăng về doanh thu, về giá trị đóng góp cho nền kinh tế quốc dân. Với quan điểm phát triển thông thường, sự gia tăng các giá trị này sẽ là dấu hiệu về sự phát triển. Tuy nhiên, trên quan điểm PTBV thì ngoài sự gia tăng các chỉ số này cần xem xét nhiều yếu tố khác như: giá trị gia tăng đều qua các năm, ảnh hưởng của sự phát triển ngành đến sự phát triển của các ngành kinh tế khác và đến xã hội.
Mặc dù không phải là yếu tố duy nhất quyết định nhưng sự tăng trưởng về GDP vẫn là dấu hiệu đầu tiên và quan trọng nhất để nhận biết sự phát triển của một ngành kinh tế nói chung và du lịch nói riêng. Tỷ lệ GDP du lịch trong cơ cấu GDP của địa phương (M) được xác định thông qua công thức sau: TGDP Trong đó: - TGDP = GDP du lịch M = ------- x 100% - NGDP = Tổng GDP của nền kinh tế NGDP Tỷ lệ M phản ánh tình trạng phát triển thực tế của ngành du lịch trong nền kinh tế quốc dân. Giá trị M càng cao và tăng theo thời gian thì ngành du lịch càng phát triển gần với mục tiêu PTBV. Bên cạnh đó, dấu hiệu để đánh giá mức độ bền vững của hoạt động du lịch có thể được xem xét thông qua mức độ đóng góp vào ngân sách Nhà nước của ngành du lịch.
Đầu tư trong du lịch Đối với bất kỳ ngành kinh tế nào, đầu tư luôn là đòn bẩy thúc đẩy sự tăng trưởng của ngành kinh tế đó. Các nguồn vốn đầu tư tồn tại dưới hai dạng là các nguồn vốn huy động và các nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Nếu như các nguồn vốn đầu tư trong nước, đặc biệt là các nguồn vốn huy động trong xã hội để phát triển các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ, có tác dụng làm phong phú thêm các loại hình dịch vụ và tạo công ăn 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com việc làm, tránh rủi ro, thì các nguồn vốn đầu tư nước ngoài lại có vai trò như đòn bẩy, thúc đẩy sự phát triển của ngành du lịch nói riêng và nền kinh tế nói chung. Trong một khoảng thời gian nghiên cứu xác định (có thể là 5 năm, 10 năm) mức độ biến đổi của các nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào du lịch sẽ cho thấy những nhận định cơ bản về tương lai phát triển của ngành.
Trong đó tỷ số “K” sẽ là dấu hiệu nhận biết về tính bền vững của ngành du lịch đứng ở góc độ đảm bảo vốn đầu tư cho phát triển. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào du lịch K = ----------------------------------------------------------------------- Tổng lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nền kinh tế Phát triển kinh tế trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi có sự thích nghi nhanh đối với những thay đổi bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan để hạn chế được những rủi ro. Điều này có thể thực hiện được nhờ việc phát triển hệ thống các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Với tư cách là một ngành kinh tế, hoạt động phát triển du lịch cần quan tâm đến vấn đề này để đảm bảo sự PTBV đứng ở góc độ kinh tế.
Điều này càng có ý nghĩa đối với những quốc gia đang phát triển, nơi năng lực quản lý ở quy mô quốc gia còn nhiều hạn chế. Đầu tư mang tính địa phương sẽ hạn chế được tỷ lệ “rò rỉ” lợi nhuận du lịch. Ngoài ý nghĩa về mặt kinh tế, việc phát triển hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ còn có ý nghĩa về xã hội, tạo điều kiện để một bộ phận lớn người lao động địa phương có việc làm. Bên cạnh đó, đây còn là môi trường thu hút được nguồn lực to lớn của xã hội cho phát triển du lịch, phù hợp với tính chất xã hội hóa cao của du lịch, đảm bảo sự PTBV.
Ngoài việc xem xét đến nguồn và giá trị vốn đầu tư, trên quan điểm phát triển bền vững, đối tượng đầu tư (CSHT, cơ sở vật chất phục vụ du lịch, tôn tạo tài nguyên, bảo vệ môi trường, đào tạo nguồn nhân lực) cũng là yếu tố quan trọng cần được đánh giá và xem xét như một dấu hiệu quan trọng của phát triển bền vững.