CHƯƠNG I: Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỤC TIỄN 1. Một số khái niệm ỉ. Du lịch, Du lịch cộng đồng Du lịch Hiện nay, trên toàn thế giới, có nhiều định nghĩa khác nhau về du lịch, phụ thuộc vào quan điếm tiếp cận và mục đích nghiên cứu của các học giả, vì vậy mỗi nhà nghiên cứu có thế có định nghĩa riêng của mình. Trong quan niệm phương Tây, du lịch được coi là một chuyến đi khám phá, tuân theo một lịch trình cụ the và không nhằm mục đích kiếm lợi kinh te.
Do đó, nhu cầu thực sự của khách du lịch ở đây chỉ đơn giản là muốn trải nghiệm, đánh giá các giá trị vật chất và tinh thần tại các diem đến du lịch. Trước the kỷ XIX và vào thời kỳ thế kỷ XX, du lịch thường được coi là đặc quyền của tầng lóp giàu có, quý tộc và được coi là một hiện tượng cá biệt trong xã hội và đời sống kinh tế. Trong thời kỳ này, du lịch đã góp phần làm phong phú cuộc sống và nhận thức của con người. Nó là một hiện tượng mà con người rời khỏi nơi cư trú thường trú để đến một nơi xa với nhiều mục đích khác nhau, trừ mục đích tìm kiếm việc làm, và họ phải chi tiêu tiền kiếm được từ nơi khác.
Theo Hunziker và Krapf (Thụy Sỹ), du lịch được tong họp như "tập họp các hiện tượng và quan hệ phát sinh từ việc di chuyến và lưu trú của những người ngoại quốc - những người không có ý định định cư và không liên quan đen bất kỳ hoạt động kiếm tiền nào" (Lan, 2005). Mill và Morrison (1985) cho rằng: "Du lịch là hoạt động xảy ra khi con người vượt qua biên giới quốc gia hoặc ranh giới vùng, khu vực, với mục đích giải trí hoặc công việc và lưu trú tại đó ít nhất 24 giờ nhưng không quá một năm". Vì vậy, du lịch chỉ xảy ra khi rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình đe đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí và nghỉ dưỡng trong một khoảng thời 11 gian cụ thể (Lan, 2005). Theo Luật Du lịch Việt Nam (2017): “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưÕTig, giải trí, tìm hiếu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết họp với mục đích họp pháp khác” (Quốc Hội, 2017).
Như vậy, đe hiếu một cách đầy đủ nhất về khái niệm du lịch, du lịch cần đảm bảo các yếu tố như sau: 1. Du lịch là hoạt động tạm thời rời khỏi nơi cư trú thường trú, không nhằm mục đích sinh sống lâu dài. Du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, khám phá, giải trí và nghỉ ngơi. Hoạt động du lịch không hướng đến mục đích kiếm tiền hoặc tạo lợi nhuận trong quá trình thực hiện chuyến đi.
Trong quá trình du lịch, người tham gia sẽ tiêu tiền cho các dịch vụ tại địa diem đến. Du lịch cộng đong Cộng đồng - một khái niệm lý thuyết cũng như thực hành xuất hiện vào những năm 1940 tại các nước thuộc địa của Anh. Năm 1950, Liên hiệp quốc công nhận khái niệm phát trien cộng đồng và khuyến khích các quốc gia sử dụng khái niệm này như một công cụ đe thực hiện các chương trình viện trợ quy mô lớn về kĩ thuật, phương pháp và tài chính vào tập kỷ 50 - 60. Trước hết, quan điểm về cộng đồng đề cập đến các yếu tố con người với phạm vi địa lý, mối quan hệ và mục đích chung trong phát trien và bảo tồn cộng đồng đó., (1998) thì “Cộng đồng là một nhóm người, thường sinh song trên cùng khu vực địa lý, tự xác định mình thuộc về cùng một nhóm.
Những người trong cùng một cộng đồng thường có quan hệ 12 huyết thống hoặc hôn nhân và có thê thuộc cùng một nhóm tôn giáo, một tầng lớp chính trị ” (A community is a group ofpeople, offen living in the same geographic area, who identify themselfyes as belonging to the same group. The people in a community are offen related by blood or marriage, and may all belong to the same religious or political group, class or caste. ('Sproule, Suhandi, 1998) Như vậy, mặc dù các cộng đồng có the có nhiều cái chung, nhưng sẽ trở nên phức tạp nếu cho rằng họ là một nhóm đồng nhất. Các cộng đồng có the bao gồm nhiều nhóm riêng như nông dân và thị dân, người giàu và người nghèo, người định cư lâu và người mới định cư.
Các nhóm quyền lợi khác nhau trong một cộng đồng dường như bị các thay đoi liên quan đến du lịch tác động đến một cách khác nhau. Các nhóm ấy phản ứng trước những thay đoi đó như the nào phụ thuộc vào mối quan hệ họ hàng, tôn giáo, chính trị và các mối ràng buộc mạnh mẽ đã được phát triển giữa các thành viên qua nhiều thế hệ. Tùy thuộc vào một vấn đề, một cộng đồng có thể đoàn kết hay chia rẽ về tư tưởng hay hành động (United Nation Food and Agriculture Organisation, 1990). Khái niệm Cộng dong (community) là một trong những khái niệm xã hội học.
Trong đời song xã hội, khái niệm cộng đồng được sử dụng một cách tương đối rộng rãi, để chỉ nhiều đối tượng có những đặc điểm tương đối khác nhau về quy mô, đặc tính xã hội. Từ những khối tập họp người, các liên minh rộng lớn như cộng đồng châu Âu, cộng đồng các nước Ả Rập,. đến một hạng/kieu xã hội, căn cứ vào đặc tính tương đồng về sắc tộc, chủng tộc hay tôn giáo,. như cộng đồng người Do Thái, cộng đồng người da đen tại Chicago.
Nhỏ hơn nữa, danh từ cộng đồng được sử dụng cho các đơn vị xã hội cơ bản là gia đình, làng hay một nhóm xã hội nào đó có những đặc tính xã hội chung về lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, thân phận xã hội như nhóm những người lái xa taxi, nhóm người khiếm thị,. (Dung, 2020) 13 Khái niệm cộng đồng bao gồm các thực thế xã hội có cơ cấu tố chức chặt chẽ cho đến các tổ chức ít có cấu trúc chặt chẽ, là một nhóm xã hội có lúc khá phân tán, đuợc liên kết bằng lợi ích chung trong một không gian tạm thời, dài hay ngắn nhu phong trào quần chúng, công chúng, khán giả, đám đông,. Bên cạnh đó, còn có một cách nhìn nhận khác, coi cộng đồng như một đặc thù chỉ có ở nền văn minh con người, ở đó con người hợp tác với nhau nhờ những lợi ích chung Du lịch cộng đong Thuật ngữ "du lịch dựa vào cộng đồng" xuất phát từ hình thức du lịch làng quê vào những năm 1970. Trong loại hình du lịch này, du khách thăm quan các làng quê đế tìm hiểu về phong tục tập quán, cuộc song hoang dã và tham gia các lễ hội.
Đồng thời, một số du khách cũng muốn khám phá hệ sinh thái đa dạng, địa hình hiểm trở và các vùng núi cao, nơi có ít dân cư và điều kiện sinh hoạt và hỗ trợ khá khó khăn, đặc biệt đối với du khách tham quan.Trong những trường họp như vậy, du khách cần sự trợ giúp như dần đường để tránh lạc, nơi ở qua đêm và các dịch vụ ăn uống đã được người dân địa phương tạo điều kiện và cung cấp. Lúc đó, chuyến du lịch của du khách thường được gọi là chuyến du lịch có sự hỗ trợ của người bản xứ - đây là tiền đề cho sự phát trien của loại hình du lịch dựa vào cộng đồng. Du lịch cộng đồng đã trở thành một xu hướng phố biến ke từ những năm 1970. Nó đã lan rộng trên nhiều châu lục, đặc biệt là ở vùng nông thôn, miền núi và các khu vực có dân tộc thiếu so.
Theo Rozemeijer (2001), du lịch cộng đồng là hoạt động du lịch do một hoặc một số cộng đồng địa phương sở hữu và khởi xướng. Nó có sự liên kết với các doanh nghiệp tư nhân đe tận dụng tài nguyên tự nhiên và văn hóa một cách bền vững, từ đó thu hút du khách, tăng thu nhập và cải thiện sinh kế.c (2006) cho rằng, du lịch cộng đồng chủ yếu là một hình thức du lịch quy mô nhỏ, nhằm đồng thời phát trien kinh tế và xã hội. Tương tự, theo 14 quan niệm của Goodwin và Santilli (2009), du lịch cộng đồng là hoạt động du lịch được sở hữu hoặc quản lý bởi cộng đồng, nhằm tạo ra lợi ích lớn hơn cho cộng đồng. Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) cũng xác định du lịch cộng đồng là hoạt động mà cộng đồng địa phương tham gia trực tiếp và đóng vai trò quan trọng trong quản lý và phát triến.
Hầu hết lợi ích thu được từ hoạt động này thuộc về cộng đong. Nhà nghiên cứu Nicole Hausle và Wollfgang Strasdas (2000) đưa ra khái niệm: “Du lịch cộng đong lả một hình thái du lịch trong đó chủ yếu là người dần địa phương đứng ra phát triên và quản lý. Lợi ích kinh tế có được từ du lịch sẽ đọng lại nền kinh te địa phương ” (Nicole Hausler and Wolfang Strasdas, Community Based Sustainable Tourism A Reader, 2000). Quan niệm trên nhấn mạnh đến vai trò chính của người dân địa phương trong vấn đề phát trien du lịch ngay trên địa bàn họ quản lý.
(Giang, 2016) Du lịch cộng đồng là “phương thức tổ chức du lịch đề cao về môi trường, văn hóa xã hội. Du lịch cộng đồng do cộng đong sở hữu và quản lý, vì cộng đồng và cho phép khách du lịch nâng cao nhận thức và học hởi về cộng đồng, về cuộc sống đời thường của họ” (Rest: Respondsible Ecological Social Tours, Thailand, 1997) Theo Hausle và Strasdas (2009), du lịch cộng đồng không chỉ đơn thuần là một hình thức du lịch có sự tham gia tích cực và chủ động của người dân vào mọi khía cạnh, mà còn góp phần trực tiếp vào phát trien kinh tế cho cả cộng đồng và địa phương. Ớ Việt Nam, Võ Quế (2006) đã đưa ra khái niệm “Du lịch dựa vào cộng đồng là phương thức phát trien du lịch trong đó cộng đồng dân cư tố chức cung cấp các dịch vụ đế phát triến du lịch, đồng thời tham gia bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường, đồng thời cộng đồng được hưởng quyền lợi về vật chất và tinh thần từ phát triển du lịch và bảo tồn tự nhiên” (Quế, 2006). 15 Theo luật du lịch (2017), du lịch cộng đồng là loại hình du lịch được phát triến trên cơ sở các giá trị văn hóa của cộng đồng, do cộng đồng dân cư quản lý, tổ chức khai thác và hưởng lợi (Quốc Hội, 2017).