Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kiến trúc với đề tài "Chuyển đổi không gian kiến trúc làng cổ vùng Đông Nam Bộ" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thành Công thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lê Thị Bích Thuận và TS. Trần Mai Anh, bảo vệ tại Viện Kiến trúc Quốc gia thuộc Bộ Xây dựng vào năm 2023 (chuyên ngành Kiến trúc, mã số 9.01). Nghiên cứu giải quyết bài toán cấp bách về sự biến đổi không gian cảnh quan làng xã truyền thống trước áp lực công nghiệp hóa và đô thị hóa tại vùng Đông Nam Bộ.

Lịch sử tạo dựng các điểm cư trú của người Việt tại Nam Bộ khởi đầu từ khu vực phía Đông với dấu mốc năm 1698 khi Nguyễn Hữu Cảnh được chúa Nguyễn cử vào thiết lập bộ máy hành chính tại Đồng Nai - Gia Định. Vùng Đông Nam Bộ hiện nay gồm 6 tỉnh, thành phố: Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu, có diện tích tự nhiên 23.605 km² (chiếm 7,1% diện tích cả nước). Đây là vùng kinh tế phát triển năng động, có tốc độ đô thị hóa nhanh và mạng lưới hạ tầng kỹ thuật phát triển mạnh.

Khoảng năm 2010, ban quản lý di tích các địa phương đã tổng hợp danh sách đề xuất công nhận di tích cho các làng truyền thống, làng nghề và 14 làng cổ. Tuy nhiên, các đề án này chưa được chính quyền phê duyệt đồng bộ, công tác bảo tồn diễn ra nhỏ lẻ tại một số điểm di tích đơn lẻ. Chương trình quy hoạch nông thôn mới thiếu định hướng bảo tồn kiến trúc cảnh quan; hệ thống giao thông mở rộng theo tiêu chuẩn đô thị làm phá vỡ cấu trúc không gian truyền thống; nhà ở chia lô kiểu đô thị thay thế dần các nếp nhà vườn cổ. Khoảng trống nghiên cứu được xác định là: các giá trị không gian kiến trúc làng cổ Đông Nam Bộ chưa được khảo sát, đánh giá đầy đủ; đồng thời thiếu các nghiên cứu hệ thống về tác động của chuyển đổi chính sách, kinh tế, xã hội, môi trường đến không gian kiến trúc làng cổ.

Mục đích nghiên cứu là nghiên cứu sự chuyển đổi không gian kiến trúc làng cổ nhằm định hướng phát triển và bảo tồn phù hợp với quá trình phát triển kinh tế - xã hội hiện nay. Luận án xác định 3 mục tiêu cụ thể:

  1. Nhận diện sự chuyển đổi không gian kiến trúc làng cổ vùng Đông Nam Bộ.
  2. Đề xuất quan điểm, định hướng tổ chức không gian kiến trúc làng cổ vùng Đông Nam Bộ.
  3. Đề xuất mô hình và giải pháp tổ chức không gian kiến trúc làng cổ Phú Hội phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội.

Đối tượng nghiên cứu là không gian kiến trúc làng cổ vùng Đông Nam Bộ. Phạm vi không gian giới hạn tại 6 tỉnh, thành phố thuộc vùng Đông Nam Bộ, tập trung vào 14 làng cổ theo danh mục tổng hợp của ban quản lý di tích các địa phương. Phạm vi thời gian tập trung vào giai đoạn từ năm 1975 đến năm 2023. Địa bàn nghiên cứu điển cứu áp dụng giải pháp thí điểm là làng cổ Phú Hội, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.

STT Tên làng cổ Vị trí hành chính Xếp hạng / Loại hình
1 Làng cổ Phú Hội Xã Phú Hội, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai Nông nghiệp
2 Làng cổ Hiệp Phước Xã Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai Nông nghiệp
3 Làng cổ Tân Triều Xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai Nông nghiệp
4 Làng cổ Bà Điểm Xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh Nông nghiệp
5 Làng cổ Phú Xuân Huyện Nhà Bè, TP. Hồ Chí Minh Nông nghiệp
6 Làng cổ Bình Tánh Xã An Tịnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh Làng truyền thống
7 Làng cổ Gia Lộc Xã An Tịnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh Làng truyền thống
8 Làng Công Tra Lộc Thiện Huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước Làng thời Pháp thuộc
9 Làng cổ Lái Thiêu Thị xã Thuận An (huyện Lái Thiêu cũ), tỉnh Bình Dương Làng nghề làm heo đất
10 Làng cổ Dĩ An Thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương Làng nghề làm nhang
11 Làng cổ Long Điền Huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Làng nghề đúc đồng
12 Làng cổ Tân Thành Xã Tân Phước và Phước Hòa, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Làng nghề chế tác đá truyền thống
13 Làng Thạnh Mỹ Xã Phước Thạnh, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Làng truyền thống
14 Làng cổ Long Hương Thị xã Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Làng truyền thống

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án được cấu trúc theo các mảng nghiên cứu lịch sử khai phá, hình thái học làng xã, kiến trúc truyền thống và lý thuyết bảo tồn thích ứng. Về tư liệu địa chí và bản đồ lịch sử, tác giả khai thác các nguồn tư liệu gốc như An Nam Đại Quốc Họa Đồ (1838) của Giám mục Taberd, Bản đồ tỉnh Gia Định năm 1865, các ghi chép của Trịnh Hoài Đức trong Gia Định Thành Thông Chí, cùng Địa chí Hành chính các tỉnh Nam kỳ thời Pháp thuộc (1859-1954). Các tài liệu này xác nhận quá trình tụ cư của lưu dân người Việt từ miền Trung (người Ngũ Quảng) xuôi theo đường biển và các trục đường sông tiến vào vùng Đồng Nai, Sài Gòn, Bà Rịa từ thế kỷ 17.

Về kiến trúc truyền thống và công trình tín ngưỡng tôn giáo Nam Bộ, luận án điểm lại các công trình khảo cứu về mô thức kiến trúc đình làng, chùa cổ, kết cấu nhà tứ trụ, kỹ thuật chạm khắc của các nhóm thợ mộc miền Trung (thợ Huế) và trường phái thợ Thủ (Thủ Dầu Một, Bình Dương). Các nghiên cứu chuyên sâu về kiến trúc nhà ở dân gian Nam Bộ của Nguyễn Bá Lăng, Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường và các tài liệu khảo sát di tích của Viện Bảo tồn Di tích được kế thừa để phân loại 5 kiểu thức mặt bằng nhà ở truyền thống vùng Đông Nam Bộ.

Về lý thuyết quy hoạch, đô thị hóa và bảo tồn, tác giả tham khảo các mô hình nghiên cứu quốc tế về làng di sản và quá trình chuyển đổi cấu trúc điểm dân cư nông thôn. Các trường hợp quốc tế được phân tích gồm: làng di sản Český Krumlov tại Cộng hòa Séc; làng cổ Shirakawa-go (tỉnh Gifu, Nhật Bản); quá trình biến đổi không gian cư trú và bảo tồn cấu trúc làng xã tại Bang Namphueng và huyện Phrapradaeng thuộc Thái Lan. Tại Việt Nam, luận án đối chiếu kinh nghiệm bảo tồn từ ba ngôi làng cổ tiêu biểu đại diện cho ba miền: làng cổ Đường Lâm (Hà Nội, đồng bằng Bắc Bộ), làng cổ Phước Tích (Thừa Thiên Huế, miền Trung) và làng cổ Đông Hòa Hiệp (Tiền Giang, Tây Nam Bộ).

Vị trí học thuật của luận án được xác lập rõ nét: trong khi các công trình đi trước chủ yếu tập trung nghiên cứu đơn lẻ về kiến trúc đình chùa, khảo sát di tích lịch sử hoặc nghiên cứu làng cổ vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, thì không gian kiến trúc làng cổ vùng Đông Nam Bộ chưa từng được khảo sát hệ thống trên bình diện vùng. Luận án đã lấp đầy khoảng trống này bằng việc khảo sát thực địa 14 làng cổ đại diện cho 6 tỉnh, thành phố vùng Đông Nam Bộ; làm rõ quy luật chuyển đổi hình thái không gian dưới tác động của công nghiệp hóa; đồng thời đề xuất hệ tiêu chí phân loại mức độ chuyển đổi và khung giải pháp bảo tồn thích ứng cho khu vực này.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng cơ sở lý thuyết dựa trên hệ thống khái niệm chuyên ngành kiến trúc, quy hoạch và bảo tồn di sản:

  • Khái niệm "Làng": Đơn vị cư trú truyền thống hoàn chỉnh của người nông dân Việt, có bộ máy tự quản (hội đồng kỳ mục, sau năm 1921 là hội đồng tộc biểu). Tại Nam Bộ, làng gắn liền với quá trình khẩn hoang và các tên gọi hành chính như thôn, ấp.
  • Khái niệm "Làng cổ": Luận án đối chiếu định nghĩa theo Nghị quyết số 24/2013/NQ-HĐND của Hội đồng Nhân dân thành phố Hà Nội (tiêu chí hình thành từ 300 năm trở lên, có tên thường gọi, tên Nôm, giữ được cấu trúc kiến trúc cơ bản và cảnh quan môi trường) và tiêu chí di sản thế giới của UNESCO. Đối với vùng Đông Nam Bộ, do lịch sử hình thành điểm cư trú của người Việt có niên đại xa nhất khoảng 400 năm, thuật ngữ "Làng cổ vùng Đông Nam Bộ" được luận án định nghĩa là các làng có niên đại thành lập lâu đời nhất trong vùng, nằm ngoài khu vực đô thị tập trung, được cơ quan quản lý di tích kiểm kê và còn bảo lưu các giá trị kiến trúc truyền thống.
  • Khái niệm "Không gian kiến trúc" và "Chuyển đổi không gian kiến trúc làng cổ": Không gian kiến trúc bao gồm toàn bộ các thành phần vật thể (công trình cư trú, công trình công cộng, hạ tầng kỹ thuật, đất sản xuất, mặt nước, cây xanh) và phi vật thể liên kết hữu cơ với nhau. Sự chuyển đổi không gian kiến trúc là quá trình biến đổi về cấu trúc, không gian và công trình (quy mô, tính chất, giá trị thẩm mỹ - kỹ thuật) nhằm thích ứng với bối cảnh kinh tế, xã hội, chính sách quản lý và nhu cầu sống đương đại. Tính thích ứng thể hiện ở 3 khía cạnh: thích ứng với điều kiện kinh tế - xã hội, bảo tồn bản sắc đặc trưng, và tổ chức môi trường sống phù hợp cho cộng đồng cư dân.

Luận án sử dụng kết hợp 8 phương pháp nghiên cứu định tính và phân tích không gian:

  1. Phương pháp khảo cứu lịch sử: Khai thác văn bản địa chí, thư tịch cổ, bản đồ địa lý lịch sử để phục dựng quá trình hình thành điểm cư trú.
  2. Phương pháp điều tra, thu thập và đánh giá: Tiến hành khảo sát thực địa tại 14 làng cổ; lập phiếu điều tra xã hội học ghi nhận ý kiến cư dân; đánh giá hiện trạng hạ tầng giao thông thủy - bộ, cấp thoát nước, công trình công cộng truyền thống, công trình xây mới, nhà ở cổ, nhà ở mới và quỹ đất canh tác nông - tiểu thủ công nghiệp.
  3. Phương pháp phân tích, tổng hợp: Tổng hợp các dữ liệu đa ngành nhằm xác định nguyên nhân, động lực và quy luật chuyển dịch cấu trúc không gian làng cổ Đông Nam Bộ.
  4. Phương pháp so sánh: So sánh hình thái không gian làng cổ Đông Nam Bộ với làng cổ đồng bằng Bắc Bộ, miền Trung và Tây Nam Bộ để làm rõ tính đặc thù.
  5. Phương pháp chồng lớp bản đồ: Sử dụng kỹ thuật bóc tách các lớp bản đồ địa chính, bản đồ không gian và mật độ xây dựng qua các mốc thời gian phát triển của 14 làng cổ nhằm nhận diện xu hướng mở rộng hoặc thu hẹp không gian.
  6. Phương pháp mô hình hóa: Khái quát hóa hình thái cấu trúc định cư thành các sơ đồ dạng hình thái cư trú và mô hình định hướng tổ chức không gian bảo tồn - cải tạo.
  7. Phương pháp chuyên gia: Phỏng vấn sâu các chuyên gia, cán bộ quản lý thuộc ban quản lý quy hoạch xây dựng và ban quản lý di tích lịch sử địa phương.
  8. Phương pháp dự báo: Dự báo xu hướng biến đổi không gian kiến trúc dưới tác động của các quy hoạch vùng, dự án công nghiệp và hạ tầng giao thông lớn trong tương lai.

Nguồn dữ liệu bao gồm: văn bản pháp lý, quy hoạch chung xây dựng xã Phú Hội năm 2007, hồ sơ xếp hạng di tích, kết quả điều tra xã hội học tại hiện trường và bảng thống kê đình làng trên địa bàn các tỉnh Đông Nam Bộ.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về không gian kiến trúc làng cổ vùng Đông Nam Bộ

Chương 1 hệ thống hóa điều kiện tự nhiên, dân cư, lịch sử lập làng và khảo sát hiện trạng cấu trúc không gian kiến trúc của 14 làng cổ vùng Đông Nam Bộ. Về tự nhiên, vùng Đông Nam Bộ có địa hình bán sơn địa lượn sóng, gò đồi thoải chuyển tiếp xuống đồng bằng trũng thấp ven sông, cao độ hiếm khi vượt quá 10 mét so với mực nước biển. Mạng lưới sông Đồng Nai, sông Sài Gòn, sông Bé và các hệ thống rạch cung cấp nguồn nước ngọt quanh năm, ít bị ngập lũ cực đoan như đồng bằng sông Cửu Long. Về thành phần dân cư, vùng đất này có sự cộng cư của 36 tộc người; người Việt chiếm đa số, sống xen kết với các cộng đồng bản địa như Chơro, Mạ, Xtiêng, Cơho (truyền thống ở nhà sàn vùng rừng núi) cùng người Hoa, người Chăm và người Khmer.

Quá trình di cư của người Việt từ miền Trung (người Ngũ Quảng) theo đường thủy ven biển tiến vào các cửa sông Mô Xoài (Bà Rịa), Đồng Môn (Đồng Nai) và Bến Nghé (Gia Định), lập nên các điểm cư trú ven sông, rạch và cù lao. Thống kê lịch sử cho thấy trên địa bàn Đông Nam Bộ có khoảng 700 thôn làng được thành lập trước năm 1975, tập trung dày đặc ở vùng trung du chuyển tiếp.

STT Tỉnh / Thành phố Số lượng đình làng / làng Niên đại ghi nhận
1 TP. Hồ Chí Minh 297 đình 1679 - 1820
2 Đồng Nai 141 đình (riêng TP. Biên Hòa có 33 đình) Từ 1802
3 Bình Dương 112 đình Từ 1820
4 Bà Rịa - Vũng Tàu 39 đình (Bà Rịa: 36 đình, TP. Vũng Tàu: 3 đình) 1788 - 1889
5 Tây Ninh 70 thôn / làng (gồm 31 làng lâm phận, Trảng Bàng có 8 đình) 1859 - 1954
6 Bình Phước 6 đình thần 1850 - 1962

Về cấu trúc không gian, làng cổ Đông Nam Bộ có tính chất là "không gian mở" phát triển tuyến tính dọc theo đường bộ hoặc bờ sông rạch, không có lũy tre dày bao bọc, không có cổng làng khép kín như làng xã Bắc Bộ. Dựa trên điều kiện địa hình và sinh kế, tác giả khái quát 7 dạng cấu trúc cư trú đặc thù:

  1. Cấu trúc làng ven bìa rừng (phổ biến tại Tây Ninh, Bình Phước).
  2. Cấu trúc làng dạng nhà vườn (phổ biến tại cù lao và vùng phù sa ven sông Đồng Nai).
  3. Cấu trúc làng trên cù lao (như cù lao Phố, cù lao Tân Triều, cù lao Rùa).
  4. Cấu trúc làng dọc theo sông, rạch (như làng Phú Xuân, Lái Thiêu).
  5. Cấu trúc làng ven biển (khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu).
  6. Cấu trúc làng trên giồng, đồi, gò (vùng bán sơn địa gò cao).
  7. Cấu trúc làng quanh các bàu suối.

Về kiến trúc truyền thống, công trình tín ngưỡng (đình, miếu, chùa) có quy mô vừa phải, phổ biến mô thức kết cấu nhà tứ trụ (4 cột cái trung tâm, kèo đâm và kèo quyết tủa ra bốn góc tạo không gian vuông vắn), mái lợp ngói vảy cá hoặc lá dừa nước, sử dụng đá ong già làm nền móng và tán chân cột. Nghệ thuật chạm khắc gỗ phản ánh tay nghề tinh xảo của thợ mộc miền Trung và trường phái thợ Thủ (Bình Dương). Kiến trúc nhà ở truyền thống có 5 dạng mặt bằng chính:

  • Nhà chữ đinh: Hai cây đòn dông của nhà trên và nhà dưới thẳng góc nhau, tạo thành một thể thống nhất.
  • Nhà chữ nhị: Hai đòn dông của nhà trên và nhà dưới nằm song song, thường là nhà ba gian xếp đôi; từ thập niên 1960-1970 có xu hướng làm nhà dưới nhô dài ra phía trước để đón sáng và quan sát cổng ngõ.
  • Nhà ba gian: Nhà trên ba gian gắn liền gian phụ một bên, mái gian chính luôn cao hơn gian phụ và có con lườn phân định ranh giới.
  • Nhà ba gian hai chái: Kết cấu khung gỗ kiểu nhà rường, vì kèo xuyên trính, cấu tạo mái xế sà thấp nhưng lòng nhà cao ráo, thoáng mát.
  • Nhà ba gian song song: Hai mái đơn giản, hai đầu hồi bít vách, làm bằng vật liệu bán kiên cố (vách ván, mái ngói hoặc tole).

Khảo sát hiện trạng tại các làng tiêu biểu như Phú Hội, Hiệp Phước (Đồng Nai), Bà Điểm (TP.HCM), Long Điền (Bà Rịa - Vũng Tàu) cho thấy cấu trúc làng cổ đang bị phá vỡ nghiêm trọng. Đô thị hóa và các khu công nghiệp vây quanh (như tại Hiệp Phước bị bao bọc bởi KCN Nhơn Trạch 1, 2, 3, 6) làm mật độ xây dựng tăng vọt. Kiến trúc công cộng mới (trụ sở UBND, trạm y tế, trường học) xây dựng theo thiết kế chuẩn hóa đô thị, thiếu gắn kết với cảnh quan truyền thống. Nhà ở xây mới dạng nhà ống chia lô bê tông cốt thép bám dọc trục đường giao thông, làm mai một không gian nhà vườn truyền thống.

Chương 2: Các cơ sở khoa học để nhận diện quá trình chuyển đổi không gian làng cổ vùng Đông Nam Bộ

Chương 2 thiết lập khung lý luận và phân tích các nhân tố chi phối quá trình chuyển đổi không gian làng cổ Đông Nam Bộ. Cơ sở pháp lý bao gồm Luật Di sản văn hóa, Luật Xây dựng, Luật Quy hoạch đô thị, các quy chuẩn xây dựng nông thôn mới và nghị quyết của HĐND các địa phương về bảo tồn di sản.

Về cơ sở lý luận, luận án phân tích quy luật chuyển đổi làng xã truyền thống dưới tác động của công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ thuần nông sang công nghiệp, dịch vụ và du lịch làm thay đổi căn bản cấu trúc sử dụng đất. Luận án xác định 4 nhóm nhân tố tác động chính:

  • Môi trường tự nhiên: Địa hình gò đồi và mạng lưới kênh rạch quy định khung cấu trúc ban đầu; các biến đổi khí hậu, sạt lở bờ sông và ngập úng cục bộ thúc đẩy thay đổi giải pháp kỹ thuật hạ tầng.
  • Kinh tế - xã hội: Áp lực gia tăng dân số cơ học từ các khu công nghiệp liền kề dẫn đến nhu cầu chia tách thửa đất, xây dựng phòng trọ, làm tăng mật độ cư trú và chia cắt không gian vườn.
  • Chính sách và quy hoạch: Việc mở rộng các tuyến giao thông liên tỉnh (tỉnh lộ 25A tại Phú Hội, quốc lộ 51, hệ thống đường liên huyện) tạo động lực phát triển kinh tế nhưng đồng thời chia cắt các ấp truyền thống; quy hoạch nông thôn mới thiếu hướng dẫn bảo tồn khiến các công trình công cộng xây mới phá vỡ hình thái kiến trúc bản địa.
  • Sự tham gia của cộng đồng: Nhận thức của người dân về giá trị di sản còn hạn chế, áp lực sinh kế và chi phí duy tu nhà gỗ cổ cao khiến nhiều hộ gia đình tự ý dỡ bỏ nhà cổ để xây dựng nhà bê tông kiên cố.

Về cơ sở thực tiễn, luận án phân tích bài học từ các làng cổ quốc tế và trong nước: kinh nghiệm bảo tồn nghiêm ngặt vùng đệm cảnh quan tại Český Krumlov (Cộng hòa Séc) và Shirakawa-go (Nhật Bản); mô hình du lịch sinh thái nông nghiệp giữ nguyên cấu trúc không gian định cư tại Bang Namphueng (Thái Lan); cùng các bài học thực tiễn về khoanh vùng bảo vệ di tích tại làng cổ Đường Lâm, làng cổ Phước Tích và làng cổ Đông Hòa Hiệp. Đây là cơ sở thực tế để luận án xây dựng hệ tiêu chí phân loại mức độ chuyển đổi không gian kiến trúc làng cổ vùng Đông Nam Bộ dựa trên 3 nhóm nội dung: thực trạng bảo tồn di sản, mức độ tác động của chương trình nông thôn mới, và khả năng thích ứng phát triển kinh tế - xã hội.

Chương 3: Nhận diện xu hướng chuyển đổi và định hướng phát triển không gian kiến trúc làng cổ vùng Đông Nam Bộ

Chương 3 là chương trọng tâm của luận án, tập trung xây dựng hệ tiêu chí phân loại, nhận diện xu hướng biến đổi không gian, đề xuất định hướng khung cho toàn vùng và triển khai giải pháp cụ thể trên trường hợp điển cứu làng cổ Phú Hội.

Hệ tiêu chí phân loại mức độ chuyển đổi không gian kiến trúc làng cổ Đông Nam Bộ được xây dựng dựa trên điểm đánh giá các thành phần: cấu trúc tổng thể, không gian cảnh quan tự nhiên, mật độ xây dựng, tỷ lệ công trình kiến trúc truyền thống còn nguyên vẹn, và mức độ can thiệp của các công trình xây mới. Luận án phân chia 14 làng cổ thành 3 cấp độ chuyển đổi:

  • Cấp độ 1: Gần như nguyên trạng (làng còn giữ được cấu trúc tổng thể, cảnh quan cây xanh mặt nước và hệ thống nhà cổ có giá trị cao).
  • Cấp độ 2: Biến đổi một phần (làng đã xuất hiện các tuyến đường mới, nhà ở mới xen cấy nhưng vẫn còn các khu vực hạt nhân bảo tồn di tích và không gian vườn truyền thống).
  • Cấp độ 3: Biến đổi hoàn toàn (làng bị đô thị hóa mạnh, ranh giới làng bị xóa nhòa, nhà lô phố chiếm đa số, di tích chỉ tồn tại dưới dạng điểm đơn lẻ).
Cấp độ chuyển đổi Đặc điểm không gian kiến trúc Làng cổ tiêu biểu Định hướng tổ chức không gian
Gần như nguyên trạng Cấu trúc không gian, cảnh quan vườn và mặt nước còn nguyên vẹn; mật độ nhà cổ cao. Phú Hội (vùng lõi gò đồi), Tân Triều, Long Điền. Bảo tồn và phát huy giá trị di sản gắn với du lịch sinh thái, văn hóa cộng đồng.
Biến đổi một phần Xuất hiện công trình mới xen cấy; cấu trúc giao thông mở rộng; vườn cây thu hẹp cục bộ. Phú Xuân, Lái Thiêu, Bà Điểm, Thạnh Mỹ, Tân Thành. Cải tạo, chỉnh trang cấu trúc hiện hữu; mở rộng kiểm soát; bảo tồn các lõi di sản.
Biến đổi hoàn toàn Mật độ xây dựng cao; nhà ống bám đường; cấu trúc nông thôn bị lấn át bởi công nghiệp và đô thị. Hiệp Phước, Dĩ An, Công Tra Lộc Thiện. Cải tạo chỉnh trang đô thị hóa; bảo tồn cục bộ các công trình di tích đơn lẻ còn sót lại.

Trên cơ sở phân loại, luận án đề xuất định hướng cấu trúc không gian theo hai dạng chính:

  1. Cấu trúc làng dạng bảo tồn và phát huy giá trị: Áp dụng cho các làng gần như nguyên trạng, bảo vệ nghiêm ngặt vùng lõi cảnh quan, khôi phục hệ thống đường thủy và mom nước, duy trì quỹ đất vườn cây trái, phát triển du lịch sinh thái và dịch vụ văn hóa.
  2. Cấu trúc làng dạng cải tạo, chỉnh trang và mở rộng: Áp dụng cho các làng biến đổi một phần và biến đổi hoàn toàn, quy hoạch các khu dân cư mới giãn nở có hạ tầng đồng bộ để giảm tải áp lực xây dựng lên khu làng cũ, chỉnh trang tuyến đường ngõ xóm theo hình thái hữu cơ truyền thống.

Đối với công trình kiến trúc cụ thể, luận án định hướng:

  • Kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng: Trùng tu nguyên trạng bằng vật liệu truyền thống (gỗ, đá ong, ngói vảy cá); loại bỏ các kết cấu xi măng, kim loại chắp vá; khôi phục không gian sân đình, cây xanh bao quanh.
  • Kiến trúc nhà ở truyền thống: Phân loại nhà cổ để hỗ trợ kinh phí bảo tồn; khôi phục mô thức nhà ba gian, ba gian hai chái, nhà chữ đinh, nhà chữ nhị gắn liền khuôn viên vườn cây.
  • Kiến trúc nhà ở xây mới: Đề xuất các giải pháp tổ hợp mặt bằng kế thừa bố cục truyền thống gồm 4 dạng: tổ hợp kiểu chữ nhất, tổ hợp kiểu chữ nhị, tổ hợp kiểu chữ đinh, và tổ hợp kiểu chữ môn; khống chế chiều cao tầng từ 1 đến 2 tầng, sử dụng mái dốc ngói, vật liệu thân thiện môi trường để hài hòa với cảnh quan chung.

Nghiên cứu trường hợp điển cứu làng cổ Phú Hội (huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai): Làng Phú Hội hình thành từ sự sáp nhập hai làng cổ Phú Mỹ và Mỹ Hội, có lịch sử trên 200 năm, nổi tiếng với nghề làm trà truyền thống khoảng 100 năm. Làng có chiều dài Bắc - Nam khoảng 4,13 km, Đông - Tây khoảng 3,71 km, nằm trên hai dạng địa hình: vùng gò đồi bán sơn địa và vùng trũng thấp ven sông Đồng Môn. Giao thông thủy trước đây gắn liền các địa danh bến đò ông Tư Chón (ấp Phú Mỹ II), hai bến ghe (ấp Phú Mỹ I) và bến ghe Năng Giang lò (ấp xóm Hố).

Hiện trạng không gian làng Phú Hội bị chia cắt sâu sắc bởi tuyến đường tỉnh lộ 25A. Khu vực phía Bắc và ven sông Đồng Môn có địa hình trũng thấp, mật độ dân cư thấp; khu vực phía Nam nằm trên địa hình gò đồi thoải, mật độ cư trú cao và là nơi lưu giữ mật độ di tích dày đặc. Làng còn lưu giữ đình Phú Mỹ (khởi dựng năm 1802, xếp hạng di tích lịch sử - kiến trúc nghệ thuật cấp tỉnh), đình Mỹ Hội, miếu Giang Lò, miếu Dinh Ông, nhà thờ Phú Hội và khoảng 16 ngôi nhà cổ trên dưới 100 năm tuổi. Tiêu biểu nhất là ngôi nhà cổ của dòng họ Đào (nhà cổ Hội đồng Liêu) xây dựng theo phong cách nhà rường miền Trung ba gian hai chái, vì kèo xuyên trính, cột gỗ gõ và căm xe, mái ngói vảy cá, vách ván bõ kho cùng hệ thống bao lam y môn chạm trổ tinh xảo.

Luận án đề xuất giải pháp tổ chức không gian tổng thể làng cổ Phú Hội:

  • Phân vùng chức năng: Xác lập vùng bảo tồn lõi (khu vực tập trung đình Phú Mỹ và 16 nhà cổ gò đồi), vùng phát triển du lịch sinh thái nông nghiệp vườn trà, và vùng mở rộng dân cư mới bám phía ngoài tỉnh lộ 25A.
  • Tổ chức không gian công cộng và canh tác: Kết nối chuỗi công trình tín ngưỡng với nhà văn hóa và trường học thành hệ thống không gian mở; khôi phục các mom nước tưới tiêu tự nhiên cho vườn trà và cây ăn trái; tổ chức công viên cảnh quan ven sông Đồng Môn.
  • Định hướng kiến trúc nhà ở: Khoanh vùng bảo tồn nghiêm ngặt 16 ngôi nhà cổ; hướng dẫn cải tạo các nhà ở xây mới theo mô hình nhà vườn sinh thái 1-2 tầng với hình thức mái dốc truyền thống (tổ hợp chữ đinh hoặc chữ nhị).

Chương 4: Kết luận và kiến nghị

Chương 4 tổng kết các kết quả đạt được của toàn bộ nghiên cứu và đề xuất hệ thống kiến nghị thực thi:

  • Kết luận: Luận án đã hoàn thành toàn diện các mục tiêu đề ra: hệ thống hóa cơ sở lý luận về không gian kiến trúc làng cổ vùng Đông Nam Bộ; nhận diện thực trạng và quy luật chuyển đổi không gian tại 14 làng cổ qua các giai đoạn phát triển; thiết lập hệ tiêu chí phân loại 3 cấp độ chuyển đổi; đề xuất định hướng tổ chức không gian kiến trúc vùng và giải pháp quy hoạch - kiến trúc chi tiết cho làng cổ Phú Hội.
  • Kiến nghị:
    • Đối với Bộ Xây dựng và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Ban hành thông tư hướng dẫn tiêu chí nhận diện và quy chế quản lý kiến trúc cảnh quan đặc thù cho hệ thống làng cổ vùng Đông Nam Bộ; lồng ghép nội dung bảo tồn làng cổ vào Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới.
    • Đối với UBND các tỉnh, thành phố vùng Đông Nam Bộ: Phê duyệt đề án bảo tồn 14 làng cổ; cấp ngân sách hỗ trợ cư dân duy tu, sửa chữa nhà cổ có giá trị; kiểm soát chặt chẽ việc cấp phép xây dựng nhà ở chia lô dọc các trục giao thông nông thôn.
    • Đối với chính quyền cơ sở và cộng đồng: Thành lập ban quản lý di sản cấp xã có sự tham gia của đại diện cộng đồng; phát triển các mô hình hợp tác xã làng nghề truyền thống gắn với du lịch sinh thái để tạo nguồn sinh kế bền vững cho người dân địa phương.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án xác lập 5 đóng góp mới về mặt lý luận khoa học và thực tiễn kiến trúc:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về làng cổ vùng Đông Nam Bộ: Xác định rõ ràng các giá trị đặc trưng về cấu trúc không gian mở và hình thái kiến trúc của làng cổ vùng Đông Nam Bộ, chỉ ra những điểm khác biệt căn bản so với làng cổ vùng đồng bằng Bắc Bộ và miền Trung.
  2. Nhận diện toàn diện quá trình chuyển đổi không gian kiến trúc: Khảo sát thực chứng và phân tích quy luật vận động, biến đổi của cấu trúc không gian, công trình công cộng và nhà ở tại 14 làng cổ thuộc 6 tỉnh, thành phố Đông Nam Bộ trong giai đoạn 1975 - 2023 dưới tác động của đô thị hóa và công nghiệp hóa.
  3. Xây dựng hệ tiêu chí phân loại mức độ chuyển đổi: Thiết lập bộ tiêu chí khoa học phân chia làng cổ Đông Nam Bộ thành 3 cấp độ chuyển đổi (gần như nguyên trạng, biến đổi một phần, biến đổi hoàn toàn), tạo công cụ định lượng hỗ trợ công tác quy hoạch và quản lý di sản.
  4. Đề xuất khung định hướng tổ chức không gian kiến trúc theo phân loại: Xác lập các nguyên tắc và mô hình định hướng tổ chức không gian cảnh quan, định hướng bảo tồn kiến trúc tín ngưỡng, cải tạo nhà ở truyền thống và thiết kế nhà ở mới (với 4 giải pháp tổ hợp mặt bằng) phù hợp cho từng loại hình làng cổ.
  5. Ứng dụng giải pháp quy hoạch kiến trúc tại làng cổ Phú Hội: Xây dựng đồ án giải pháp tổ chức không gian tổng thể, bảo tồn cấu trúc nhà vườn, chuỗi di tích lịch sử và hệ thống mom nước cảnh quan phục vụ phát triển kinh tế - xã hội địa phương tại địa bàn nghiên cứu điển cứu.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế, luận án tập trung khảo sát trên phạm vi rộng gồm 14 làng cổ tại 6 tỉnh thành phố, do đó nguồn dữ liệu về một số làng chủ yếu dừng lại ở mức khảo sát hiện trạng và hồ sơ di tích hiện có của địa phương trong bối cảnh đề án làng cổ cấp vùng chưa được chính quyền phê duyệt đồng bộ. Về giải pháp quy hoạch chi tiết và thiết kế kiến trúc công trình, luận án mới chỉ tập trung thử nghiệm sâu tại một trường hợp điển cứu là làng cổ Phú Hội (huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai).

Hướng nghiên cứu tiếp theo được văn bản chỉ ra bao gồm:

  • Tiếp tục kiểm chứng và hoàn thiện hệ tiêu chí phân loại mức độ chuyển đổi không gian kiến trúc trên diện rộng đối với các điểm dân cư nông thôn truyền thống khác trong vùng Đông Nam Bộ.
  • Nghiên cứu sâu các giải pháp kỹ thuật bảo tồn vật liệu truyền thống đặc trưng (đá ong già, gỗ gõ, căm xe, ngói vảy cá) nhằm chống chọi với điều kiện thời tiết nhiệt đới gió mùa tại khu vực phía Nam.
  • Xây dựng quy chế quản lý kiến trúc cảnh quan chi tiết và cơ chế chính sách tài chính hỗ trợ trực tiếp cho các chủ sở hữu nhà cổ trong khu vực nông thôn Đông Nam Bộ.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị học thuật và thực tiễn đối với nhiều đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Kiến trúc, Quy hoạch vùng và đô thị, Quản lý đô thị, Văn hóa học: Luận án cung cấp hệ thống tư liệu thực địa phong phú về 14 làng cổ Đông Nam Bộ, phương pháp tiếp cận đa ngành kết hợp phân tích hình thái học kiến trúc và kỹ thuật chồng lớp bản đồ.
  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Xây dựng, Sở Xây dựng, Sở Quy hoạch - Kiến trúc, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch các tỉnh vùng Đông Nam Bộ): Cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng chính sách, hướng dẫn kỹ thuật trong công tác lập đồ án quy hoạch xây dựng nông thôn mới, bảo tồn cảnh quan làng nghề và kiểm soát xây dựng nhà ở nông thôn.
  • Phần đáng tham khảo nhất của luận án là: Danh mục khảo sát chi tiết hiện trạng 14 làng cổ tại Chương 1; Bộ tiêu chí phân loại 3 cấp độ chuyển đổi không gian kiến trúc tại Chương 3; và Giải pháp quy hoạch tổ chức không gian thích ứng tại làng cổ Phú Hội (Chương 3).

Câu hỏi thường gặp

1. Không gian kiến trúc làng cổ vùng Đông Nam Bộ có đặc điểm gì khác biệt so với làng cổ đồng bằng Bắc Bộ?
Khác với không gian làng cổ Bắc Bộ mang tính chất khép kín, bao bọc bởi lũy tre dày, cổng làng kiên cố và ranh giới cư trú chặt chẽ, làng cổ vùng Đông Nam Bộ là "không gian mở". Làng được hình thành tuyến tính phát triển dọc theo bờ sông, rạch hoặc các tuyến đường bộ, gắn liền với cảnh quan sông nước tự nhiên, không có tường rào bao quanh làng, không có cổng làng khép kín và đất đai không bị manh mún.

2. Luận án khảo sát thực địa bao nhiêu làng cổ và gồm những địa phương nào?
Luận án tiến hành khảo sát thực địa tại 14 làng cổ thuộc 6 tỉnh, thành phố vùng Đông Nam Bộ, gồm: Đồng Nai (Phú Hội, Hiệp Phước, Tân Triều); TP. Hồ Chí Minh (Bà Điểm, Phú Xuân); Tây Ninh (Bình Tánh, Gia Lộc); Bình Phước (Làng Công Tra Lộc Thiện); Bình Dương (Lái Thiêu, Dĩ An); và Bà Rịa - Vũng Tàu (Long Điền, Tân Thành, Thạnh Mỹ, Long Hương).

3. Kiến trúc nhà ở truyền thống của người Việt tại làng cổ Đông Nam Bộ gồm những dạng mặt bằng cơ bản nào?
Luận án xác định 5 dạng mặt bằng nhà ở truyền thống chính: (1) Nhà chữ đinh (đòn dông nhà trên và nhà dưới vuông góc nhau); (2) Nhà chữ nhị (đòn dông nhà trên và nhà dưới song song, nhà dưới thường nhô dài ra phía trước); (3) Nhà ba gian (nhà trên ba gian kèm một gian phụ bên cạnh); (4) Nhà ba gian hai chái (kết cấu kiểu nhà rường, vì kèo xuyên trính, cấu tạo mái xế sà thấp); và (5) Nhà ba gian song song (kết cấu hai mái đơn giản, bít hai đầu hồi).

4. Vì sao làng cổ Phú Hội (Đồng Nai) được lựa chọn làm địa bàn nghiên cứu điển cứu?
Làng Phú Hội có lịch sử hơn 200 năm, được xếp hạng và nghiên cứu cùng thời kỳ với các làng cổ đại diện quốc gia như Đường Lâm, Phước Tích, Đông Hòa Hiệp. Làng lưu giữ đình Phú Mỹ (khởi dựng năm 1802, di tích cấp tỉnh), 16 ngôi nhà cổ trên dưới 100 năm tuổi (tiêu biểu là nhà cổ họ Đào) và nghề làm trà truyền thống 100 năm. Vị trí địa lý của làng chịu tác động mạnh mẽ của trục giao thông tỉnh lộ 25A và quá trình đô thị hóa vùng Nhơn Trạch, đại diện tiêu biểu cho áp lực chuyển đổi và khả năng thích ứng không gian của làng cổ Đông Nam Bộ.

5. Luận án phân chia mức độ chuyển đổi không gian làng cổ thành những cấp độ nào?
Luận án xây dựng hệ tiêu chí phân loại 14 làng cổ Đông Nam Bộ thành 3 cấp độ: (1) Gần như nguyên trạng (bảo tồn cấu trúc tổng thể và cảnh quan vườn lõi như Phú Hội, Tân Triều, Long Điền); (2) Biến đổi một phần (cải tạo, chỉnh trang và kiểm soát mở rộng như Phú Xuân, Lái Thiêu, Bà Điểm, Thạnh Mỹ, Tân Thành); và (3) Biến đổi hoàn toàn (cải tạo chỉnh trang cấu trúc hiện đại hóa, bảo tồn điểm di tích đơn lẻ như Hiệp Phước, Dĩ An, Công Tra Lộc Thiện).

Kết luận

Luận án "Chuyển đổi không gian kiến trúc làng cổ vùng Đông Nam Bộ" của nghiên cứu sinh Nguyễn Thành Công là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên về hình thái không gian kiến trúc 14 làng cổ thuộc vùng kinh tế trọng điểm Đông Nam Bộ giai đoạn 1975 - 2023. Tác giả đã làm rõ quy luật biến đổi cấu trúc định cư từ không gian mở truyền thống sang hình thái chịu áp lực công nghiệp hóa, thiết lập thành công bộ tiêu chí phân loại 3 cấp độ chuyển đổi không gian kiến trúc. Kết quả nghiên cứu đề xuất khung giải pháp tổ chức không gian bảo tồn thích ứng khả thi, được kiểm chứng cụ thể qua đồ án quy hoạch làng cổ Phú Hội (Đồng Nai), mang lại giá trị khoa học và cơ sở thực tiễn phục vụ công tác quản lý quy hoạch xây dựng nông thôn mới vùng Đông Nam Bộ.