CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHO VIỆC NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG LIÊN KẾT DÂN CƯ TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG 1. Một số vấn đề về du lịch cộng đồng 1.1 Tổng quan du lịch cộng đồng Bối cảnh Du lịch cộng đồng bắt đầu phát triển ở Việt Nam vào cuối những năm 1980 với những du khách đầu tiên đến từ khối Đông Âu cũ. Vào đầu những năm 1990, thị trường du lịch được mở để đón khách du lịch từ phương Tây và dần dần là khách nội dịa. Hòa Bình (Bản Lác ở Mai Châu) là nơi đầu tiên ở Bắc Bộ hoạt động du lịch cộng đồng.
Ở miền Nam, đảo Thới Sơn ở Tiền Giang và Vĩnh Long đã tiếp đón khách du lịch của Đông Âu ngay từ năm 1985. Cuối những năm 1990, theo dòng phát triển của khách quốc tế đến từ Tây Âu và Bắc Mỹ, DLCĐ được khởi xướng ở miền Bắc tại Sapa, một điểm du lịch giàu có về di sản văn hóa của các dân tộc ít người. DLCĐ được mở rộng tới các vùng gần Hội An và Huế và vùng Đồng Bằng sông Cửu Long như Long Xuyên, Châu Đốc tại An Giang. DLCĐ không thể đặt ngoài xu hướng phát triển du lịch chung.
Khái niệm DLCĐ đôi khi được coi là một sản phẩm của du lịch sinh thái, du lịch mạo hiểm, du lịch làng hoặc du lịch bền vững. Để có thể xác định rõ ràng DLCĐ là gì, những phần tiếp sau đây của nghiên cứu cần phải xây dựng một hệ thống khái niệm về DLCĐ tại Việt Nam. Các khái niệm của du lịch cộng đồng Nguồn gốc của thuật ngữ Du lịch cộng đồng (DLCĐ) phát sinh từ các thuật ngữ có trước như “du lịch nông thôn”, “du lịch làng” vốn là những mô hình phát triển kinh tế nông thôn1. Do nhu cầu ngày càng tăng về sự tham gia hiệu quả của cộng đồng vào những mô hình phát triển du lịch nông thôn nói trên, thuật ngữ “Du lịch cộng đồng” bắt đầu phát triển.
Hiện giờ, DLCĐ đã trở thành một thuật ngữ căn bản trong từ vựng chuyên ngành của du lịch và quy hoạch phát triển. Cộng đồng (Community): Một cộng đồng có thể được định nghĩa là “một nhóm người có chung một đặc điểm, thường theo tiêu chí vể địa lý”. Vì mục đích phát triển 1 Võ Quế (2006) 12 du lịch, “cộng đồng” được áp dụng chủ yếu để nói về cộng đồng ở nông thôn, thành thị riêng biệt hoặc cộng đồng có mối kết nối về di sản hoặc văn hóa. Dựa vào (Based): nhằm nhấn mạnh du lịch phát triển có nền tảng chắc chắn, dựa vào chính nguồn lực của cộng đồng.
Cộng đồng có vai trò sau: - Các thành viên trong cộng đồng đóng vai trò quyết định trong việc hoạch định, xây dựng, triển khai và quản lý các hoạt động du lịch. - Cộng đồng với tư cách là một khối tập thể được coi là một yếu tố quan trọng (nếu không nói là yếu tố chủ chốt) của sức hấp dẫn và các hoạt động du lịch. Du lịch: Du lịch là hoạt động chính được các cộng đồng dựa vào để tạo ra những thay đổi về kinh tế xã hội và thập chí về văn hóa hoặc môi trường. Trong bối cảnh của DLCĐ, du lịch cần được hiểu theo nghĩa đủ rộng là bao gồm sự giải trí/nghỉ ngơi trong ngày, học hỏi, giáo dục, từ thiện và tình nguyện.
Du lịch sau cùng là một lọai hình kinh doanh. Bất kỳ một chương trình du lịch nào cũng không thể thiếu tính khả thi về kinh tế. DLCĐ thường được khởi xướng là mục tiêu cơ bản trong quá trình phát triển kinh tế địa phương. Bên cạnh đó, có những lý do khác để cộng đồng theo đuổi DLCĐ như bảo tồn văn hóa và môi trường cũng như có những lợi ích phát triển khác mà DLCĐ mang lại như nâng cao năng lực quản lý địa phương, tạo lập nguồn vốn xã hội.
Phát triển DLCĐ là một quá trình đúng hơn là một sản phẩm. Tuy nhiên, sự bền vững về mặt kinh tế sau cùng lại có chính là bảo tồn nguồn tài nguyên một cách bền vững. Những dự án du lịch không bảo đảm được tình bền vững kinh tế sẽ có nguy cơ thất bại bởi lẽ những dự án này không bảo tồn bền vững được nguồn tài nguyên của địa phương. Một định nghĩa tương tự khác của REST về DLCĐ như sau: “DLCĐ là du lịch có tính đến tính bền vững về mặt môi trường, văn hóa và xã hội.
Nó do chính cộng đồng quản lý và làm chủ vì lợi ích của cộng đồng vì mục đích tạo cho du khách có khả năng nhận thức và tìm hiểu về cộng đồng và lối sống của cộng đồng”2 DLCĐ được định nghĩa đúng nhất phải là một quá trình, chứ không phải là một loại hình sản phẩm du lịch đặc biệt. Quá trình “DLCĐ” đảm bảo sao cho các cộng đồng 2 REST – 1997, trích theo Nguyễn Thị Mỹ Hạnh 2016 13 địa phương có thể tích cực tham gia quy hoạch và quản lý du lịch để du lịch trở thành một phương tiện đáp ứng nhu cầu phát triển địa phương và dựa vào đó có thể tiếp tục tạo ra những sản phẩm và dịch vụ du lịch tiêu biểu cho những đặc điểm nổi bật của cộng đồng đó. Du lịch cộng đồng được định nghĩa tại Luật du lịch 2017 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018). Theo đó: Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở các giá trị văn hóa của cộng đồng, do cộng đồng dân cư quản lý, tổ chức khai thác và hưởng lợi (đây là định nghĩa nhóm nghiên cứu sử dụng để phân tích các nội hàm).
Hiện nay trên thế giới, du lịch cộng đồng được xem là một loại hình du lịch bền vững giúp thúc đẩy các chiến lược xóa đói giảm nghèo trong môi trường cộng đồng với mục tiêu thu hút sự tham gia của người dân địa phương trong các sản phẩm du lịch, tạo ra sinh kế đồng thời khuyến khích tôn trọng các truyền thống văn hóa cũng như các di sản thiên nhiên tại địa phương. Có được điều đó là bởi du lịch cộng đồng có sự liên kết của chính quyền địa phương, cơ quan quản lý du lịch, cơ quan bảo tồn, các công ty du lịch, hãng lữ hành, các tổ chức phi chính phủ, và đặc biệt là cộng đồng địa phương và khách du lịch. Theo các chuyên gia du lịch, việc phát triển các sản phẩm du lịch cộng đồng là phù hợp với xu thế thời đại, đáp ứng nhu cầu khám phá của đông đảo du khách muốn tìm hiểu văn hoá dân tộc đặc sắc. Tuy nhiên, các chuyên gia du lịch cũng đưa ra lời khuyến cáo: Muốn du lịch cộng đồng phát triển cần giữ nguyên gốc, nguyên sơ, chất phác chân thực của văn hoá bản địa, đó là giá trị cốt lõi của cộng đồng, không để đánh mất nó.
Phát triển du lịch thì phải có trách nhiệm với xã hội. Để phát triển kinh tế địa phương, tôn trọng những giá trị bản địa, giá trị cộng đồng thì loại hình du lịch có trách nhiệm sẽ là giải pháp để phát triển du lịch cộng đồng đúng hướng và bền vững. Một nền du lịch bền vững thì người dân phải được hưởng lợi từ sự phát triển du lịch của địa phương… 1. Các bên tham gia vào du lịch cộng đồng Theo Freeman (1984) trong công trình: “Quản trị chiến lược: Cách tiếp cận các bên liên quan", các bên liên quan được định nghĩa là "Bất kỳ cá nhân hay nhóm người có thể ảnh hưởng hoặc bị ảnh hưởng bởi việc đạt được các mục tiêu của tổ chức".
Nếu trong định nghĩa của Freeman, các bên tham gia đã được phân thành hai nhóm: (1) những người có thể ảnh hưởng đến quyết định và (2) những người bị ảnh hưởng bởi đã điều 14 chỉnh lại thuật ngữ này, các bên liên quan để chi "Một chủ thể có quan tâm hoặc ủng hộ trong một vấn đề chung và bao gồm tất cả các cá nhân, nhóm hay tổ chức ảnh hưởng trực tiếp bởi những hành động người khác để giải quyết một vấn đề". Trong phát triển DLCD, các chủ thể/ bên liên quan chính như sau (1) CĐĐP; (2) Chính quyền địa phương: (3) Các doanh nghiệp du lịch; (4) Khách du lịch; và (5) Các tổ chức chính phú và phi chính phủ, các cơ quan, các cá nhân và các nhà khoa học. Cụ thể: • Cộng đồng địa phương Từ "cộng đồng" có nguồn gốc từ tiếng Latin "communitas”, nói về tinh thần rất cộng đồng, hoặc một cộng đồng phi cấu trúc mà trong đó mọi người đều bình đẳng. Thuật ngữ này có một tâm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển cộng đồng vì nó phù hợp với các cách dùng đặc biệt trong khoa học nhân học văn hóa và xã hội.
Vào những năm 1960, Turner mô tả “communitas” liên quan tới cộng đồng trong tiến trình - "một nhóm người có chung một ngưỡng và trong một thời gian và không gian giới hạn - ở lơ lửng không phải quá khứ cũng không phải hiện tại và trong một không gian không phải ở đây cũng không phải ở kia”3 Theo Nguyễn Hữu Nhân (2004)4: "Cộng đồng là những cộng đồng được gọi tên như đơn vị làng, bản, xã, huyện. những người chung về lý tưởng xã hội, lứa tuổi, giới tính, thân phận xã hội. Khái niệm cộng đồng có 2 nghĩa: - Là một nhóm dân cư cùng sinh sống trong một địa phương nhất định, có cùng giá trị và tổ chức xã hội cơ bản. - Là một nhóm dân cư có cùng mối quan tâm".
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (2000): cộng đồng được hiểu là "Một tập đoàn người rộng lớn, có những dấu hiệu chung về thành phần giai cấp, về nghề nghiệp, về địa điểm sinh tụ và cư trú. Cũng có những cộng đồng xã hội bao gồm cả một dòng giống, một sắc tộc, một dân tộc”. Thực tế hiện nay “cộng đồng" có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Nhưng hầu hết đều cho rằng “cộng đồng" được xác định về mặt địa lý: một thung lũng, một dãy núi, hay một lưu vực sông; hay về mặt chính trị, là các thị trấn, thành phố và quốc gia.
(2006), Community development through tourism, Landlinks Press. 4 Trích theo Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, 2006. 15 Trong các nghiên cứu về nhận thức và thái độ đối với du lịch và tác động du lịch, các tác giả có thể dùng thuật ngữ "cộng đồng địa phương", "người dân địa phương". Thuật ngữ "cộng đồng địa phương" chỉ những người dân sống trong cùng khu vực địa lý (không phân biệt người dân đó có phải sinh ra tại địa phương đó hay không), trong một tổ chức xã hội (các xã), và chia sẻ những giá trị nhất định.