Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Phát triển du lịch cộng đồng tại Làng cổ Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội" được thực hiện bởi sinh viên Đoàn Thị Ngọc Bích, chuyên ngành Văn hóa du lịch, Khoa Quản lý xã hội - Học viện Hành chính Quốc gia (niên khóa 2020–2024), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lê Thu Hương.
Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn
Du lịch cộng đồng (DLCĐ) được xác định là phương thức phát triển kinh tế bền vững cho cư dân bản địa, góp phần bảo tồn các giá trị di sản văn hóa, phong tục tập quán và tạo thêm sinh kế. Làng cổ Đường Lâm (thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội) là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia đầu tiên thuộc loại hình kiến trúc làng cổ tại Việt Nam (được xếp hạng năm 2006). Nơi đây hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch như bề dày lịch sử hơn 4.000 năm (từ thời kỳ văn hóa Phùng Nguyên), quần thể di tích kiến trúc gỗ - đá ong đậm nét văn hóa châu thổ sông Hồng và hệ thống làng nghề truyền thống.
Tuy nhiên, việc khai thác tài nguyên du lịch tại địa phương vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Hoạt động du lịch bộc lộ nhiều điểm hạn chế: tính chuyên nghiệp chưa cao, đội ngũ nhân lực phục vụ mang tính nghiệp dư, sản phẩm du lịch đơn điệu, cơ sở hạ tầng - dịch vụ còn thiếu đồng bộ và mức độ đồng thuận cũng như chia sẻ lợi ích giữa các bên tham gia chưa đạt hiệu quả tối ưu. Việc nghiên cứu thực trạng và tìm kiếm giải pháp phát triển du lịch cộng đồng tại địa bàn là yêu cầu cấp thiết được tác giả đặt ra.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là phân tích và đánh giá thực trạng khai thác các tiềm năng văn hóa, lịch sử tại Làng cổ Đường Lâm nhằm phục vụ việc phát triển du lịch cộng đồng. Để đạt được mục đích này, tác giả xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch cộng đồng, các đặc điểm, nguyên tắc, điều kiện và vai trò của loại hình này.
- Nghiên cứu, đánh giá tiềm năng và thực trạng khai thác các điều kiện tự nhiên, văn hóa, hạ tầng, lượng khách và mức độ hài lòng của du khách tại Làng cổ Đường Lâm giai đoạn 2020–2024.
- Đề xuất các định hướng, giải pháp và kiến nghị quản lý nhằm nâng cao hiệu quả khai thác tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng tại Làng cổ Đường Lâm trong thời gian tới.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động phát triển du lịch cộng đồng tại Làng cổ Đường Lâm.
- Phạm vi không gian: Địa bàn Làng cổ Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội (tập trung chủ yếu tại 5 làng cổ liền kề gồm Mông Phụ, Đông Sàng, Cam Thịnh, Cam Lâm, Đoài Giáp).
- Phạm vi thời gian: Đề tài tiến hành khảo sát thực tế từ tháng 01/2024 đến tháng 04/2024. Các thông tin, số liệu thống kê được thu thập, phân tích và giới hạn trong giai đoạn từ năm 2020 đến năm 2024 (kèm theo chuỗi dữ liệu thống kê du khách từ năm 2011 đến năm 2024).
Hệ thống giả thuyết khoa học
Khóa luận xây dựng 4 nhóm giả thuyết phục vụ việc chứng minh các luận điểm nghiên cứu:
- Giả thuyết công việc: Cộng đồng địa phương chưa tích cực tham gia phát triển DLCĐ do chưa nhận thức rõ lợi ích kinh tế - xã hội; sản phẩm du lịch chưa phong phú khiến du khách lưu trú ngắn (chủ yếu trong ngày) và mức độ hài lòng chưa cao.
- Giả thuyết có điều kiện: Nếu không có phương thức khai thác tài nguyên văn hóa - lịch sử đúng đắn, hoạt động DLCĐ tại địa phương sẽ tiếp tục phát triển mang tính bản năng, tự phát.
- Giả thuyết xác định: Tài nguyên văn hóa là điều kiện cần và đủ; sự thiếu hụt cơ chế phân chia lợi ích đồng đều giữa các bên sẽ cản trở tính bền vững của mô hình.
- Giả thuyết lý thuyết: Mức độ nhận thức của cư dân và sự can thiệp, hỗ trợ của các cấp chính quyền có mối tương quan thuận với hiệu quả phát triển DLCĐ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
Khóa luận vận dụng hệ thống khái niệm, văn bản quy phạm pháp luật và lý thuyết chuyên ngành du lịch học:
- Khái niệm Du lịch: Trích dẫn định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) và Khoản 1 Điều 3 Luật Du lịch năm 2017 (Luật số 09/2017/QH14).
- Khái niệm Cộng đồng: Tiếp cận theo quan điểm xã hội học của Keith và Ary, định nghĩa trong Từ điển Bách khoa Việt Nam.
- Khái niệm Du lịch cộng đồng: Vận dụng Khoản 15 Điều 3 Luật Du lịch năm 2017 ("Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở các giá trị văn hóa của cộng đồng, do cộng đồng dân cư quản lý, tổ chức khai thác và hưởng lợi"), định nghĩa của tác giả Bùi Hải Yến (2012) và Sổ tay hướng dẫn phát triển DLCĐ.
- Đặc điểm của DLCĐ: Vận dụng lý luận của Đoàn Mạnh Cương (2019, Vụ Đào tạo - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) với 6 đặc trưng: bảo đảm tính bền vững văn hóa và tự nhiên; quyền sở hữu của cộng đồng; lợi ích thu nhập giữ lại cho cộng đồng; nâng cao nhận thức cộng đồng; tăng cường quyền lực làm chủ cho người dân; sự hỗ trợ từ các cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức phi chính phủ.
- 4 nguyên tắc phát triển DLCĐ: (1) Bình đẳng xã hội; (2) Tôn trọng văn hóa địa phương và các di sản thiên nhiên; (3) Chia sẻ lợi ích công bằng; (4) Quyền sở hữu và sự tham gia chủ động của cộng đồng địa phương.
- Điều kiện và vai trò: Phân tích 9 điều kiện cần và đủ để vận hành mô hình; đánh giá vai trò của DLCĐ trên các phương diện kinh tế (tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo), văn hóa (bảo tồn di sản, giữ chân nguồn nhân lực trẻ), xã hội (gắn kết cộng đồng) và môi trường (nâng cao ý thức bảo vệ cảnh quan).
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Tác giả kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng trong ngành văn hóa du lịch:
- Phương pháp khảo sát thực địa: Thực hiện từ tháng 01/2024 đến tháng 04/2024 tại Làng cổ Đường Lâm để quan sát trực tiếp cơ sở hạ tầng, hoạt động kinh doanh homestay, dịch vụ ăn uống, trải nghiệm làng nghề và công tác quản lý của Ban Quản lý Di tích.
- Phương pháp tổng hợp, phân tích thông tin: Phân loại, so sánh các nguồn số liệu thống kê về lượng khách nội địa và quốc tế, đánh giá các điểm nghẽn trong khai thác tài nguyên du lịch.
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Kế thừa các công trình nghiên cứu trước đó về Đường Lâm và DLCĐ, bao gồm: công trình của Nguyễn Tùng (chủ biên, 1999, 2003); Phạm Thị Hải Yến và Đỗ Trần Phương (2018); Đinh Giang (2023, Tạp chí Cộng sản); Hà Triệu Huy (2022, Tạp chí Khoa học và Công nghệ - Đại học Thái Nguyên); Nguyễn Thị Thu Trang (2017); Võ Quế (2006); các báo cáo hành chính, quy hoạch từ UBND thị xã Sơn Tây và Ban Quản lý Di tích Làng cổ Đường Lâm.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Tiến hành phỏng vấn chuyên sâu trực tiếp đối với 50 khách du lịch (độ tuổi từ 18 đến 56) tại khu vực Làng Mông Phụ trong khoảng thời gian từ ngày 01/03/2024 đến ngày 10/03/2024 nhằm đo lường mức độ hài lòng về chất lượng dịch vụ và cơ sở vật chất kỹ thuật.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về du lịch cộng đồng
Chương này tập trung hệ thống hóa các vấn đề lý luận nền tảng:
- Phân tích sự hình thành và bản chất của DLCĐ tại Việt Nam từ cuối những năm 1980, nhấn mạnh cộng đồng dân cư vừa là chủ thể sáng tạo, quản lý di sản, vừa là đối tượng trực tiếp hưởng lợi kinh tế.
- Làm rõ tính hai mặt của tác động du lịch: du khách đem lại nguồn thu và cơ hội việc làm, nhưng cũng có thể dẫn đến nguy cơ thương mại hóa, làm "mất chất" hoặc biến dạng bản sắc văn hóa truyền thống khi người dân tự ý thay đổi sản phẩm để chiều theo thị hiếu du khách.
- Khái quát 4 nguyên tắc cốt lõi, hệ thống các điều kiện phát triển bền vững và làm rõ vai trò đa diện của DLCĐ trong việc đa dạng hóa sinh kế nông thôn, giảm thiểu rủi ro kinh tế do biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp thuần túy.
Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng tại Làng cổ Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội
Chương 2 cung cấp bức tranh chi tiết, số liệu thực tế về các điều kiện và hoạt động du lịch tại địa phương:
- Tổng quan địa bàn: Đường Lâm nằm cách trung tâm Hà Nội khoảng hơn 40–50km về phía Tây, nằm ở vị trí "tọa sơn vọng thủy" (lưng tựa núi Tản Viên - Ba Vì, mặt hướng sông Hồng), gồm 9 thôn với 5 làng Mông Phụ, Đông Sàng, Cam Thịnh, Cam Lâm, Đoài Giáp. Di chỉ Gò Mả Đống (văn hóa Phùng Nguyên) xác lập lịch sử định cư trên 4.000 năm; nơi đây gắn với danh xưng "đất hai vua" (Phùng Hưng và Ngô Quyền).
- Tài nguyên du lịch:
- Văn hóa vật thể: 20 di tích được xếp hạng (8 di tích cấp quốc gia, 12 di tích cấp thành phố), gần 100 ngôi nhà cổ hàng trăm năm tuổi làm từ đá ong và gỗ mít, hệ thống cổng làng, đình, chùa, giếng nước cổ.
- Văn hóa phi vật thể và làng nghề: Nghề làm tương nếp Mông Phụ, làm kẹo lạc, kẹo dồi, làm chè lam, bánh tẻ, nuôi gà Mía; hệ thống lễ hội truyền thống phong phú (lễ hội Phùng Hưng ngày 8 tháng Giêng, lễ hội Ngô Quyền 14 tháng 8 âm lịch, lễ hội đình Mông Phụ mùng 10 tháng Giêng, lễ hội chùa Ón mùng 3 tháng 3 âm lịch...).
- Sản phẩm và không gian mới: Sự kiện thường niên "Tết làng Việt" (năm thứ 3 tổ chức vào tháng 01/2024); không gian sáng tạo, workshop "Đoài Creative" (ra mắt tháng 4/2023 tại số 7 đường Làng Cổ); tour trải nghiệm nông nghiệp cày bừa, cấy lúa phục vụ khách quốc tế và học sinh.
- Khung chính sách và đầu tư:
- Quyết định số 4597/QĐ-UBND (2012) phê duyệt Quy hoạch phát triển du lịch Hà Nội đến 2020, định hướng 2030; Quyết định số 4851/QĐ-UBND (2019) công nhận điểm du lịch Làng cổ Đường Lâm; Nghị quyết số 09-NQ/TU (2022) về công nghiệp văn hóa.
- Dự án tu bổ, tôn tạo 10 ngôi nhà cổ giai đoạn 2016–2018 do UBND thành phố Hà Nội phê duyệt với mức hỗ trợ 800 triệu đồng/nhà, tổng mức đầu tư 12,939 tỷ đồng.
- Tuyến đường bê tông trục chính dài 2km đầu tư 5 tỷ đồng (2011) kết hợp các tuyến đường lát gạch nghiêng do nhân dân đóng góp; mạng lưới cấp nước sạch của Công ty CP Cấp nước Sơn Tây và 100% hộ dân có điện lưới.
- Thực trạng cung ứng dịch vụ và tham gia của cộng đồng:
- Toàn xã có hơn 40% hộ dân tham gia hoạt động du lịch, dịch vụ; riêng 5 thôn có hơn 100 hộ trực tiếp kinh doanh du lịch (homestay như House Number 9, Chicken’s House, Duka...; dịch vụ ăn uống tại các nhà cổ ông Hùng, bà Điền, Vững Tâm phục vụ thịt quay đòn, gà Mía, tương chấm cà).
- Ban Quản lý Di tích thu phí vé 20.000 đồng/khách nhằm chi trả công tác trông coi, thuyết minh và phân bổ một phần cho các hộ dân mở cửa đón khách tham quan nhà cổ.
- Thực trạng du khách và mức độ hài lòng:
- Lượng khách trung bình đạt gần 150.000 lượt/năm (khách quốc tế từ 6.000 đến 15.000 lượt từ Nhật Bản, Anh, Hà Lan, Bỉ, Thụy Sĩ, Hàn Quốc, Singapore...). Năm 2023, thị xã Sơn Tây đón 1,2 triệu lượt khách, trong đó Đường Lâm đón 70.000 lượt. Đầu năm 2024, làng cổ đón hơn 30 đoàn khách trải nghiệm. Đa phần du khách chỉ tham quan trong ngày, tỷ lệ lưu trú đêm rất thấp.
| Mức độ đánh giá |
Số lượng khách (n = 50) |
Tỷ lệ (%) |
Các lý do chính được phản ánh |
| Không hài lòng |
25,5 |
51,0% |
Thiếu nhà vệ sinh công cộng; ít đồ lưu niệm; thiếu hệ thống xe điện quy chuẩn; cơ sở lưu trú chưa đảm bảo; lịch trình chưa đặc sắc |
| Hài lòng |
18,0 |
36,0% |
Không gian thanh bình, nhà cổ độc đáo, trải nghiệm văn hóa và ẩm thực dân dã |
| Bình thường |
6,5 |
13,0% |
Dịch vụ ở mức cơ bản, chưa có nhiều hoạt động trải nghiệm chuyên sâu |
Bảng tổng hợp mức độ hài lòng của 50 du khách tại thôn Mông Phụ (Khảo sát tháng 03/2024)
- Mặt hạn chế, tồn tại: Tình trạng vận chuyển khách bằng xe điện tự phát, tranh giành khách và thu phí không thống nhất vào đầu năm 2024; hạ tầng vệ sinh công cộng thiếu thốn; kỹ năng giao tiếp và nghiệp vụ du lịch của người dân còn yếu; sản phẩm quà lưu niệm nghèo nàn.
Chương 3: Giải pháp nhằm phát triển du lịch cộng đồng tại Làng cổ Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội
Từ các phân tích thực trạng, chương 3 đề ra hệ thống giải pháp và kiến nghị quản lý:
- Xác lập định hướng phát triển sản phẩm du lịch đặc thù gắn với di sản văn hóa, mở rộng thị trường khách mục tiêu (khách học đường, khách quốc tế trải nghiệm văn hóa nông thôn).
- Nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch: mở các lớp tập huấn kỹ năng giao tiếp, nghiệp vụ hướng dẫn, đón tiếp khách và bảo vệ môi trường cho người dân địa phương.
- Quản lý và chuẩn hóa hoạt động vận tải khách tham quan (đặc biệt là dịch vụ xe điện), đảm bảo an ninh trật tự, an toàn giao thông.
- Kiến nghị đối với UBND thị xã Sơn Tây, Sở Du lịch Hà Nội và Ban Quản lý Di tích về việc tăng cường đầu tư hệ thống nhà vệ sinh công cộng đạt chuẩn, hoàn thiện quy hoạch các phân khu du lịch, thiết lập cơ chế điều tiết và chia sẻ lợi ích vé tham quan minh bạch hơn cho cộng đồng dân cư trực tiếp làm du lịch.
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu chính
Khóa luận đã làm rõ bức tranh thực nghiệm về mô hình du lịch cộng đồng tại Làng cổ Đường Lâm thông qua chuỗi dữ liệu thực tế:
- Tổng hợp đầy đủ hệ thống tài nguyên với 20 di tích xếp hạng (8 di tích cấp quốc gia), gần 100 nhà cổ có niên đại hàng trăm năm và các lễ hội truyền thống tiêu biểu.
- Đo lường mức độ tham gia kinh tế của địa phương: trên 40% hộ dân toàn xã tham gia du lịch - dịch vụ, hơn 100 hộ tại 5 thôn trực tiếp làm dịch vụ lưu trú homestay, ẩm thực, trải nghiệm nghề truyền thống.
- Cung cấp dữ liệu định lượng cụ thể về sự hài lòng của du khách (51% không hài lòng, 36% hài lòng, 13% bình thường trên mẫu khảo sát n=50), chỉ ra 5 nguyên nhân cốt lõi tác động tiêu cực đến trải nghiệm của khách tham quan.
- Đánh giá cơ chế vận hành của Ban Quản lý Di tích (thu vé 20.000 đồng/khách) và ghi nhận kết quả từ nguồn ngân sách hỗ trợ tu bổ nhà cổ (dự án 12,939 tỷ đồng hỗ trợ 800 triệu đồng/nhà cho 10 ngôi nhà cổ).
Hệ thống giải pháp tác giả đề xuất
- Đổi mới, đa dạng hóa sản phẩm du lịch: phát huy các mô hình trải nghiệm sáng tạo như "Đoài Creative", sự kiện "Tết làng Việt", tour nông nghiệp cày bừa - cấy lúa, gắn kết sản vật địa phương (gà Mía, tương nếp, chè lam).
- Đào tạo nghiệp vụ thực hành: tổ chức các khóa tập huấn thường xuyên về kỹ năng du lịch cộng đồng, văn hóa ứng xử văn minh, vệ sinh an toàn thực phẩm cho người dân nông thôn.
- Cải thiện cơ sở hạ tầng du lịch: xây dựng bổ sung nhà vệ sinh công cộng đạt chuẩn, quy hoạch bãi đỗ xe và quản lý chặt chẽ hoạt động của đội xe điện vận chuyển du khách.
- Hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa Ban Quản lý Di tích, chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư nhằm đảm bảo nguyên tắc chia sẻ lợi ích công bằng.
Đóng góp của đề tài
- Về mặt lý luận: Khóa luận hệ thống hóa các lý thuyết, nguyên tắc, điều kiện và vai trò của DLCĐ; làm tài liệu học tập, tham khảo cho sinh viên chuyên ngành Văn hóa du lịch và Quản lý xã hội thuộc Học viện Hành chính Quốc gia.
- Về mặt thực tiễn: Công trình phản ánh khách quan các mặt tích cực và bất cập trong quản trị du lịch tại một di sản văn hóa cấp quốc gia; đề xuất các giải pháp có tính thời sự, khả thi cho Ban Quản lý Di tích Làng cổ Đường Lâm và cơ quan quản lý nhà nước thị xã Sơn Tây.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu: Thời gian khảo sát thực địa ngắn (từ tháng 01/2024 đến tháng 04/2024); dung lượng mẫu điều tra xã hội học còn khiêm tốn (50 du khách) và địa bàn phỏng vấn chủ yếu tập trung tại khu vực trung tâm làng Mông Phụ, chưa phủ rộng hết toàn bộ 9 thôn của xã Đường Lâm.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng quy mô điều tra định lượng đối với cả cư dân địa phương và các doanh nghiệp lữ hành; nghiên cứu chuyên sâu về mô hình toán kinh tế phân chia tỷ lệ doanh thu từ vé tham quan giữa Nhà nước và hộ dân; đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội lâu dài của các không gian sáng tạo mới (như Đoài Creative) đối với cộng đồng bản địa.
Giá trị tham khảo
Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực đối với các nhóm đối tượng:
- Sinh viên, học viên: Ngành Văn hóa du lịch, Quản lý văn hóa, Quản lý xã hội, Du lịch học tại các trường đại học, học viện khi tìm kiếm tài liệu nghiên cứu về mô hình phát triển du lịch cộng đồng tại các làng quê di sản Bắc Bộ.
- Cán bộ quản lý văn hóa - du lịch: Ban Quản lý Di tích Làng cổ Đường Lâm, Phòng Văn hóa - Thông tin thị xã Sơn Tây và Sở Du lịch Hà Nội trong việc tham khảo dữ liệu khảo sát du khách, đánh giá thực trạng hạ tầng và triển khai các chương trình tập huấn nâng cao nghiệp vụ cho người dân địa phương.
- Phần đáng tham khảo nhất: Chương 2 của khóa luận, đặc biệt là phần thống kê hệ thống di tích - lễ hội, đánh giá các chính sách bảo tồn nhà cổ, dữ liệu khảo sát sự hài lòng của du khách và phân tích phương thức vận hành của các mô hình trải nghiệm mới (Đoài Creative, Tết làng Việt).
Câu hỏi thường gặp
1. Làng cổ Đường Lâm có bao nhiêu di tích đã được xếp hạng và được trao bằng Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia vào năm nào?
Làng cổ Đường Lâm được Đảng và Nhà nước trao bằng Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia vào năm 2006. Hiện nay, trên địa bàn có 20 di tích đã được xếp hạng, bao gồm 8 di tích cấp quốc gia và 12 di tích cấp thành phố, cùng gần 100 ngôi nhà cổ có niên đại hàng trăm năm.
2. Kết quả khảo sát mức độ hài lòng của du khách tại Làng cổ Đường Lâm trong khóa luận cho thấy điều gì?
Kết quả phỏng vấn sâu 50 du khách tại làng Mông Phụ (tháng 03/2024) cho thấy có 51% du khách không hài lòng về chất lượng dịch vụ và cơ sở vật chất kỹ thuật; 36% du khách cảm thấy hài lòng và 13% du khách có đánh giá ở mức bình thường.
3. Dự án tu bổ nhà cổ tại xã Đường Lâm được phê duyệt với kinh phí hỗ trợ và quy mô như thế nào?
Dự án được phê duyệt chủ trương đầu tư vào năm 2015 và triển khai trong giai đoạn 2016–2018 nhằm tu bổ 10 ngôi nhà cổ. Ngân sách thành phố Hà Nội hỗ trợ 800 triệu đồng/ngôi nhà, với tổng mức đầu tư dự kiến là 12,939 tỷ đồng.
4. Mức phí tham quan tại Làng cổ Đường Lâm là bao nhiêu và nguồn thu này được dùng vào mục đích gì?
Ban Quản lý Di tích thu phí vào làng cổ với mức 20.000 đồng/khách. Khoản thu này được dùng để chi trả cho công tác trông coi di tích, hoạt động thuyết minh của hướng dẫn viên tại điểm và trả phí trông coi, mở cửa đón khách tham quan của các hộ gia đình sở hữu nhà cổ (không bao gồm kinh phí tôn tạo di tích do ngân sách nhà nước cấp).
5. Tỷ lệ cư dân xã Đường Lâm tham gia vào các hoạt động du lịch và dịch vụ được thống kê là bao nhiêu?
Theo số liệu thống kê trong khóa luận, toàn xã Đường Lâm có hơn 40% hộ dân tham gia vào các hoạt động phát triển du lịch và dịch vụ (lưu trú, ăn uống, cho thuê xe đạp, trải nghiệm); trong đó có hơn 100 hộ dân tại 5 thôn trực tiếp kinh doanh và tạo sản phẩm phục vụ du khách.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đoàn Thị Ngọc Bích đã phản ánh toàn diện bức tranh phát triển du lịch cộng đồng tại Làng cổ Đường Lâm giai đoạn 2020–2024 trên cơ sở kết hợp lý luận chuyên ngành và khảo sát thực chứng. Đề tài đã làm rõ thế mạnh về tài nguyên văn hóa - lịch sử phong phú, đồng thời chỉ ra các hạn chế căn bản về chất lượng dịch vụ, hạ tầng vệ sinh, giao thông và tính chuyên nghiệp của nguồn nhân lực bản địa. Hệ thống giải pháp và kiến nghị được xây dựng sát với thực tế quản trị địa phương, mang lại giá trị tham khảo hữu ích cho công tác bảo tồn di sản gắn với phát triển sinh kế bền vững tại thị xã Sơn Tây.