Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Phát triển du lịch tại các làng nghề truyền thống gắn với cải thiện sinh kế cộng đồng địa phương: Trường hợp làng nghề Miến dong tại làng So - Tân Hòa - Quốc Oai - Hà Nội" do sinh viên Đỗ Thị Kim Oanh (ngành Kinh tế Chính trị CLC, Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội) thực hiện năm 2023 dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Tuấn Sơn và sự định hướng của cô Dương Thị Trà My.
Bối cảnh thực tiễn của đề tài xuất phát từ tiềm năng kinh tế và giá trị văn hóa - xã hội to lớn của hệ thống làng nghề truyền thống tại Việt Nam. Theo số liệu của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam (2020), cả nước có trên 5.400 làng nghề và nghề truyền thống thuộc hơn 50 nhóm nghề. Riêng tại Hà Nội, giá trị sản xuất làng nghề đạt khoảng 22.000 tỷ đồng (tương đương gần 1 tỷ USD), kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 160 triệu USD/năm so với tiềm năng 200 triệu USD/năm. Mặc dù Chính phủ đã triển khai nhiều chính sách như Đề án "Mỗi làng một sản phẩm" (2008) hay "Chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề Việt Nam giai đoạn 2021 – 2030", hoạt động phát triển làng nghề nhìn chung vẫn gặp khó khăn do thiếu đơn vị bao tiêu, đăng ký sở hữu trí tuệ còn yếu và nguy cơ ô nhiễm môi trường gia tăng.
Tại huyện Quốc Oai, toàn huyện có 17 làng được công nhận làng nghề và làng nghề truyền thống (14 làng công nhận giai đoạn 2001–2008 và 3 làng công nhận các năm 2011, 2015). Theo Quyết định số 4597/QĐ-UBND của UBND Thành phố Hà Nội về Quy hoạch phát triển du lịch thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, Quốc Oai được định hướng phát triển du lịch sinh thái, du lịch văn hóa di tích và du lịch nông nghiệp - nông thôn. Huyện đã đạt kết quả tích cực trong công tác giảm nghèo khi chỉ còn 252 hộ nghèo (tỷ lệ 0,48%).
Làng So (xã Tân Hòa, huyện Quốc Oai) nổi tiếng với nghề làm miến dong truyền thống lâu đời, sở hữu các thương hiệu như miến Hương Việt, miến Dương Kiên (sản phẩm OCOP 4 sao, xuất khẩu sang Nhật Bản, Đài Loan và xúc tiến thương mại tại Canada). Vào mùa cao điểm cận Tết, cơ sở xuất xưởng 3 – 4 tấn miến/ngày. Công nhân làm miến có thu nhập bình quân khoảng 62 triệu đồng/người/năm (so với mức 45 triệu đồng/người/năm của hộ thuần nông), lương tháng đạt 6 – 7 triệu đồng. Tuy nhiên, làng nghề đang đối mặt với nhiều rào cản: số hộ làm nghề thu hẹp do thiếu mặt bằng sản xuất và sân phơi; phụ thuộc vào tiêu thụ tự phát; du lịch văn hóa chỉ tập trung vào 3 kỳ lễ hội đình làng So trong năm (mùng 8 tháng 2, mùng 10 tháng 7, mùng 10 tháng 12 âm lịch) mà chưa khai thác dòng khách thường xuyên từ các danh thắng lân cận như Núi Trầm, Chùa Thầy, Chùa Quảng Nghiêm.
Mục tiêu nghiên cứu:
- Mục tiêu chung: Tìm ra giải pháp phát triển du lịch làng nghề kết hợp cải thiện sinh kế cho cộng đồng địa phương dựa trên nghề làm miến dong tại làng So, xã Tân Hòa, huyện Quốc Oai, Hà Nội.
- Mục tiêu cụ thể: Phân tích các yếu tố tác động đến phát triển du lịch tại làng nghề miến dong; đánh giá tiềm năng và rào cản của sản phẩm và hoạt động du lịch; đề xuất định hướng và giải pháp phát triển du lịch bền vững gắn với bảo tồn làng nghề và cải thiện sinh kế.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu và hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch làng nghề để vận dụng vào trường hợp làng nghề miến dong làng So.
- Thu thập tư liệu, khảo sát và phân tích các điều kiện phát triển cùng thực trạng hoạt động sản xuất, sinh kế và du lịch tại làng So.
- Đề xuất định hướng và hệ thống giải pháp khả thi nhằm phát triển du lịch làng nghề gắn với cải thiện sinh kế địa phương.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các điều kiện và thực trạng phát triển du lịch tại làng nghề truyền thống gắn với cải thiện sinh kế cộng đồng địa phương.
- Phạm vi không gian: Làng So, xã Tân Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực hiện năm 2023, sử dụng chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 2020–2022 và dữ liệu khảo sát thực tế tại thời điểm nghiên cứu.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên việc tiếp cận đa chiều về du lịch, làng nghề truyền thống và khung sinh kế bền vững:
- Khái niệm và lý thuyết nền tảng:
- Du lịch: Tổng hợp quan điểm của M. Coltman, Robert W.R. Brent Ritchie, Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), Liên hiệp quốc tế các tổ chức lữ hành chính thức (IUOTO) và Luật Du lịch Việt Nam 2005.
- Làng nghề và làng nghề truyền thống: Tiếp cận quan điểm của Trần Quốc Vượng, Bùi Văn Vượng, Dương Bá Phượng; Dự thảo Nghị định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2005) quy định tiêu chí làng nghề (>35% số hộ tham gia, >50% tổng thu nhập); bộ tiêu chuẩn 4 yếu tố của Nguyễn Lê Thu Hiền (2014) về tỷ lệ lao động (>50%), tỷ trọng giá trị sản xuất (>50%), tính mỹ nghệ/bản sắc văn hóa và quy trình công nghệ bí truyền.
- Du lịch làng nghề truyền thống: Vận dụng định nghĩa của PGS. Phạm Trung Lương về du lịch văn hóa tổng hợp kết hợp tham quan, trải nghiệm sản xuất và tiêu dùng sản phẩm đặc trưng; phân tích ranh giới phân biệt giữa du lịch làng nghề và du lịch sinh thái (Ecotourism).
- Khung sinh kế bền vững (SLA): Khái niệm sinh kế và lý thuyết chiến lược sinh kế của Seppala (1996) gồm 3 nhóm: Chiến lược tích lũy (dài hạn), Chiến lược tái sản xuất (trung hạn), và Chiến lược tồn tại (ngắn hạn).
| Tiêu chí phân tích |
Du lịch làng nghề truyền thống |
Du lịch sinh thái (Ecotourism) |
| Đối tượng tham gia |
Khách quan tâm văn hóa, lịch sử, nghề cổ truyền |
Khách yêu thích thiên nhiên, hoạt động ngoài trời |
| Hoạt động chính |
Học nghề, xem quy trình, thưởng thức ẩm thực, lễ hội |
Đi bộ dã ngoại, ngắm cảnh, bảo tồn đa dạng sinh học |
| Tác động môi trường |
Chịu ảnh hưởng từ chất thải sản xuất làng nghề |
Chú trọng giảm thiểu tối đa tác động sinh thái |
-
Mô hình nghiên cứu lý thuyết đề xuất:
Mô hình liên kết giữa sinh kế địa phương và phát triển du lịch làng nghề được hình thành từ 5 nhóm nhân tố tương tác: (1) Quy mô sản xuất, kỹ thuật công nghệ, chất lượng nhân công, quy trình và sản phẩm; (2) Nước thải (số lượng, chất lượng), an toàn vệ sinh sản xuất, kiểm tra và giám sát; (3) Di tích lịch sử, công tác quảng bá, kiến thức, sự quan tâm của Nhà nước; (4) Chính sách, phương pháp phát triển, đề xuất giải pháp; (5) Cải thiện nguồn vốn và tài sản sinh kế của cộng đồng.
-
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu định tính: Đóng vai trò chủ đạo nhằm phân tích sâu các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường.
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Kế thừa báo cáo kinh tế - xã hội của UBND huyện Quốc Oai, UBND xã Tân Hòa, các tài liệu niên giám, sách, báo và đề án chuyên ngành.
- Phương pháp nghiên cứu thực địa và khảo sát: Quan sát hiện trường, tham quan quy trình sản xuất và phỏng vấn trực tiếp nghệ nhân, hộ làm nghề miến, người dân địa phương và cán bộ quản lý xã Tân Hòa.
- Phương pháp xử lý dữ liệu: Thống kê mô tả, phân tích tổng hợp, so sánh đối chiếu và mô hình hóa quy trình.
Nội dung chính theo từng chương
Lời mở đầu
Trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh phát triển kinh tế nông thôn và bảo tồn di sản; xác định rõ mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể, 3 nhiệm vụ nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi không gian (làng So, Tân Hòa, Quốc Oai) và thời gian (năm 2023), cùng cấu trúc tổng thể 4 chương của khóa luận.
Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu và cơ sở lý thuyết
- Tổng quan tình hình nghiên cứu: Tổng thuật chi tiết các công trình trong nước (Trần Thị Hồng Hạnh, 2014; Nguyễn Lê Thu Hiền, 2014; Đỗ Thị Hoa, 2010; Nguyễn Thị Lan Hương, 2022; Trương Thúy Hằng, 2009; Nguyễn Đức Khiêm, 2016; Nguyễn Tri Nam Khang và cộng sự, 2013; Đường Gia Công, 2018; Phạm Quốc Sử, 2007; Mai Thế Hớn, 2000; Nguyễn Đình Hòa, 2010; Trần Minh Yến, 2023; Vương Trí Thông, 2021; Nguyễn Minh Triết & Mai Võ Ngọc Thanh, 2020; Nguyễn Thị Ánh, 2012; Trịnh Xuân Hậu & Trịnh Văn Anh, 2012) và các nghiên cứu quốc tế (Mohammad B.; Patricia López-Santos & AnaMaria Fernández-Maldonado, 2015; I P Astawa và cộng sự, 2018; Ramadhani và cộng sự, 2021; Mira Maulani Utami và cộng sự, 2019; Rui Jun Qin & Ho Hon Leung, 2021). Từ đó, tác giả chỉ ra khoảng trống nghiên cứu về sự kết hợp giữa phát triển du lịch và chuyển dịch sinh kế tại làng nghề miến dong làng So.
- Hệ thống cơ sở lý thuyết: Phân tích các khái niệm về du lịch, làng nghề, làng nghề truyền thống, các đặc trưng kiến trúc cảnh quan và sản phẩm của du lịch làng nghề; làm rõ sự khác biệt giữa du lịch làng nghề và du lịch sinh thái; trình bày khung sinh kế bền vững và các chiến lược sinh kế hộ gia đình theo Seppala (1996).
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chi tiết hóa quy trình nghiên cứu logic từ khâu xác định vấn đề, thu thập tài liệu thứ cấp (báo cáo thống kê của địa phương) đến thiết kế nghiên cứu thực địa, quan sát, phỏng vấn chuyên sâu đại diện hộ sản xuất miến dong, người dân địa phương và cán bộ xã Tân Hòa; trình bày kỹ thuật phân loại, tổng hợp và xử lý dữ liệu định tính.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
- Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội làng So (xã Tân Hòa): Đánh giá vị trí địa lý cách trung tâm Hà Nội 30km, địa hình bán sơn địa; phân tích dân số, nguồn lao động, cơ cấu kinh tế theo ngành sản xuất năm 2020 (Bảng 1), cơ cấu sử dụng đất đai (Bảng 3).
- Thực trạng sản xuất miến dong và cơ sở hạ tầng: Thống kê số hộ tham gia sản xuất tinh bột và miến dong năm 2020 (Bảng 2); quy mô các loại hình sản xuất trong làng nghề (Bảng 4); mô tả chi tiết sơ đồ 2 quy trình công nghệ gồm quy trình sản xuất tinh bột dong (Hình 3) và quy trình sản xuất miến dong thành phẩm (Hình 4). Phân tích sự hình thành các thương hiệu lớn (Dương Kiên, Hương Việt) và sản phẩm OCOP 4 sao.
- Thực trạng sinh kế và nguồn nhân lực: Lao động làm nghề miến đạt thu nhập 62 triệu đồng/năm, mỗi cơ sở quy mô tạo việc làm cho khoảng 20 lao động; chỉ ra tình trạng thiếu hụt nhân lực có kỹ năng nghiệp vụ du lịch và thuyết minh.
- Thực trạng môi trường làng nghề: Phân tích nguồn nước sử dụng cho sản xuất miến (Bảng 5) và tính toán hệ số phát sinh nước thải của các loại hình sản xuất tinh bột, tráng miến (Bảng 6), chỉ ra nguy cơ ô nhiễm nguồn nước và thiếu hụt trầm trọng mặt bằng sân phơi.
- Đánh giá thuận lợi, khó khăn và hệ thống giải pháp: Đề xuất 8 nhóm giải pháp phát triển làng nghề miến dong làng So gắn với du lịch:
- Giải pháp quy hoạch: Quy hoạch không gian làng nghề, phân khu sản xuất tập trung tách rời khu dân cư, bố trí bãi đỗ xe và sân phơi đạt chuẩn.
- Giải pháp cơ chế, chính sách và tổ chức quản lý: Hoàn thiện quy chế quản lý làng nghề, thành lập tổ/hợp tác xã điều phối du lịch.
- Giải pháp sản phẩm và tuyến du lịch: Xây dựng tour trải nghiệm làm miến, kết nối tuyến du lịch Chùa Thầy – Làng So – Núi Trầm – Chùa Quảng Nghiêm.
- Giải pháp đầu tư vốn và cơ sở vật chất kỹ thuật: Đầu tư máy móc sấy miến khép kín, nâng cấp đường giao thông nông thôn và điểm dừng chân cho du khách.
- Giải pháp hỗ trợ cộng đồng địa phương: Đào tạo kỹ năng làm du lịch cộng đồng, hỗ trợ tiếp cận vốn vay ưu đãi chuyển đổi sinh kế.
- Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di sản: Khai thác không gian kiến trúc đình làng So và 3 kỳ lễ hội truyền thống gắn với tour trải nghiệm.
- Giải pháp bảo vệ tài nguyên môi trường: Xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung cho các cơ sở chế biến tinh bột dong và tráng bánh.
- Giải pháp xúc tiến, quảng bá (E-marketing): Đẩy mạnh tiếp thị số, xây dựng bộ nhận diện thương hiệu miến dong làng So OCOP.
Danh mục bảng số liệu thống kê trong khóa luận:
Chương 4: Kết luận
Tổng hợp các phát hiện nghiên cứu chính về thực trạng kinh tế - môi trường làng nghề miến dong; khẳng định tính tất yếu của việc tích hợp du lịch vào sinh kế nông thôn; nhấn mạnh các khuyến nghị đối với UBND huyện Quốc Oai và xã Tân Hòa nhằm hiện thực hóa các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững.
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính kèm số liệu từ văn bản:
- Khóa luận làm rõ bức tranh kinh tế làng So: Thu nhập công nhân sản xuất miến đạt trung bình 62 triệu đồng/người/năm, cao hơn mức 45 triệu đồng/người/năm của lao động thuần nông; cơ sở quy mô giải quyết việc làm cho khoảng 20 lao động với mức lương 6 – 7 triệu đồng/tháng.
- Xác định năng lực sản xuất thực tế: Các cơ sở tiêu biểu (như miến Dương Kiên) đạt sản lượng xuất xưởng 3 – 4 tấn miến dong/ngày vào vụ cận Tết, đạt chứng nhận OCOP 4 sao và đã xuất khẩu sang Nhật Bản, Đài Loan, tiếp cận thị trường Canada.
- Chỉ ra các điểm nghẽn hạ tầng và môi trường: Hoạt động chế biến phụ thuộc nhiều vào thời tiết do thiếu sân phơi; quy trình ngâm rửa củ dong và tách tinh bột phát sinh lượng nước thải lớn (được lượng hóa qua Bảng 5 và Bảng 6), đe dọa cảnh quan môi trường du lịch.
- Khai thác du lịch còn manh mún: Hoạt động tham quan chỉ tập trung cục bộ vào 3 ngày hội đình làng So trong năm, chưa hình thành tuyến liên kết với Chùa Thầy, Núi Trầm.
Giải pháp và kiến nghị của tác giả:
- Đề xuất hệ thống 8 nhóm giải pháp đồng bộ: quy hoạch mặt bằng sản xuất và sân phơi tập trung; hỗ trợ vốn chuyển đổi công nghệ sấy thay thế phơi truyền thống; xây dựng trạm xử lý nước thải; đào tạo kỹ năng du lịch cộng đồng; kết nối tour liên huyện; ứng dụng marketing điện tử (e-marketing) mở rộng đầu ra.
- Kiến nghị UBND huyện Quốc Oai và xã Tân Hòa đưa làng nghề miến dong làng So vào quy hoạch tour tuyến du lịch trọng điểm của huyện, hỗ trợ kinh phí bảo vệ môi trường và thành lập tổ hợp tác du lịch nông thôn.
Đóng góp của đề tài:
- Kế thừa và phát triển khung lý luận về phát triển làng nghề gắn với sinh kế bền vững (SLA) vào một địa bàn cụ thể chưa từng được nghiên cứu toàn diện là làng nghề miến dong làng So (Quốc Oai, Hà Nội).
- Nhận diện đúng và trúng các điểm yếu nội tại của làng nghề: chính sách hỗ trợ chậm đa dạng hóa, thiếu liên kết chuỗi giữa hộ sản xuất và doanh nghiệp bao tiêu, và vấn đề môi trường - mặt bằng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do giới hạn về thời gian và kinh nghiệm nghiên cứu của sinh viên, khóa luận chủ yếu áp dụng phương pháp định tính và điều tra thực địa trên quy mô mẫu giới hạn tại địa bàn làng So; chưa xây dựng được mô hình kinh tế lượng đo lường định lượng mức độ gia tăng thu nhập khi có can thiệp du lịch.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu định lượng trên quy mô mẫu hộ gia đình lớn hơn; đánh giá chi tiết mức độ sẵn sàng chi trả của du khách cho sản phẩm du lịch trải nghiệm làng nghề; nghiên cứu mô hình kinh tế tuần hoàn xử lý phụ phẩm, bã dong riềng và nước thải trong chế biến miến.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng tham khảo: Tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên cao học các ngành Kinh tế phát triển, Kinh tế Chính trị, Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành, Xã hội học nông thôn; cán bộ quản lý văn hóa - kinh tế tại UBND huyện Quốc Oai, UBND xã Tân Hòa; các chủ cơ sở sản xuất và hợp tác xã làng nghề.
- Hạng mục giá trị nhất: Quy trình công nghệ chế biến tinh bột và miến dong (Hình 3, Hình 4); hệ thống bảng số liệu hiện trạng quy mô, đất đai, nguồn nước và hệ số nước thải làng nghề (Bảng 1 đến Bảng 6); khung 8 nhóm giải pháp phát triển du lịch gắn với cải thiện sinh kế.
Câu hỏi thường gặp
-
Sản phẩm miến dong làng So đã đạt được tiêu chuẩn chất lượng nào và thị trường xuất khẩu ra sao?
Sản phẩm miến dong Dương Kiên tại làng So đã được UBND thành phố Hà Nội công nhận đạt chuẩn OCOP 4 sao, xuất khẩu thành công sang thị trường Nhật Bản, Đài Loan và đang đàm phán hợp tác với đối tác tại Canada.
-
Chênh lệch thu nhập giữa lao động làm nghề miến dong và lao động thuần nông tại xã Tân Hòa là bao nhiêu?
Theo số liệu báo cáo của địa phương trong văn bản, thu nhập của công nhân làm nghề miến dong đạt trung bình 62 triệu đồng/người/năm (lương tháng từ 6 – 7 triệu đồng đối với cơ sở áp dụng máy móc), cao hơn đáng kể so với mức thu nhập 45 triệu đồng/người/năm của các hộ gia đình thuần nông.
-
Hoạt động văn hóa tâm linh tại làng So hiện diễn ra vào những thời điểm nào trong năm?
Đình làng So tổ chức 3 kỳ lễ hội lớn hằng năm: Lễ hội mùng 8 tháng 2 âm lịch, Lễ khao quân mùng 10 tháng 7 âm lịch, và Lễ Thánh hóa mùng 10 tháng 12 âm lịch với các hoạt động tế lễ, rước kiệu, bịt mắt bắt dê, hát cổ truyền và thể thao.
-
Những rào cản lớn nhất khiến nhiều hộ dân tại làng So phải bỏ nghề miến dong là gì?
Các rào cản chính gồm: thiếu hụt trang thiết bị máy móc hiện đại, thiếu mặt bằng sản xuất, đặc biệt là thiếu địa điểm sân phơi miến đạt chuẩn, cùng với việc đầu ra sản phẩm chủ yếu do hộ gia đình tự tìm kiếm, thiếu sự liên kết bao tiêu của doanh nghiệp.
-
Khóa luận đề xuất bao nhiêu nhóm giải pháp để phát triển du lịch làng nghề miến dong làng So?
Tác giả đề xuất hệ thống 8 nhóm giải pháp cụ thể: (1) Quy hoạch; (2) Cơ chế, chính sách và tổ chức; (3) Sản phẩm và liên kết tuyến du lịch; (4) Vốn đầu tư và cơ sở vật chất kỹ thuật; (5) Hỗ trợ cộng đồng địa phương; (6) Bảo tồn và phát huy giá trị làng nghề; (7) Bảo vệ tài nguyên môi trường; (8) Xúc tiến, quảng bá (E-marketing).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đỗ Thị Kim Oanh đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về mối quan hệ tương hỗ giữa phát triển du lịch làng nghề truyền thống và cải thiện sinh kế cộng đồng địa phương. Thông qua trường hợp nghiên cứu cụ thể tại làng nghề miến dong làng So (Quốc Oai, Hà Nội), công trình đã phản ánh chân thực tiềm năng sản xuất, các chỉ số kinh tế - môi trường, cùng những rào cản về mặt bằng sân phơi, ô nhiễm nước thải và tính liên kết du lịch. Hệ thống 8 nhóm giải pháp được đề xuất cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn, hỗ trợ đắc lực cho công tác quy hoạch chính sách kinh tế nông thôn và bảo tồn di sản văn hóa xứ Đoài theo hướng bền vững.