Chương 1: Tỗng quan tài liệu nghiên cứu Tổng hợp kết quả của các nghiên cứu trước đây liên quan đến phát triển du lich, cải thiện sinh kế cộng đồng địa phương và các làng nghề truyền thống trong nước va nước ngoài. e Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Mô tả chỉ tiết về quy trình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong khóa luận. Trình bày cách thức thu thập dữ liệu, đối tượng nghiên cứu, kỹ thuật phân tích và các công cụ được áp dụng. e_ Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Trình bày các kết quả nghiên cứu được thu thập và phân tích từ làng nghề Miến dong tại làng So - Tân Hòa từ đó phân tích và đánh giá các kết quả nghiên cứu đã thu thập.
Trình bày những hạn chế, thách thức và cơ hội trong việc phát triển du lịch tại làng nghề Miễn dong và cải thiện sinh kế cộng đồng địa phương. Dựa vào đó, đưa ra các giải pháp và khuyến nghị hướng phát triển du lịch bền vững và có lợi cho cộng đồng địa phương. e Chương 4: Kết luận Tóm tắt lại những điểm chính của khóa luận, nhấn mạnh các kết quả quan trọng đã đạt được và hệ quả của nghiên cứu. Đồng thời, đưa ra những nhận định về tầm quan trọng và ý nghĩa của đề tài và mở rộng hướng phát triển trong tương lai.
TONG QUAN TÀI LIEU NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYET 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 1. Tổng quan nghiên cứu trong nước Trần Thị Hồng Hạnh (2014) nghiên cứu về thực tiễn hoạt động du lịch làng nghề tỉnh Vĩnh Phúc, cụ thể về các vấn đề: cơ sở vật chất phục vụ du lịch làng nghề, nhân lực du lịch, thị trường khách, công tác tổ chức quản lý du lịch làng nghề, hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch Vĩnh Phúc góp phan phat triển du lich làng nghề ở tinh Vĩnh Phúc cũng như góp phan bảo tồn di sản văn hoá trong kinh doanh du lịch. Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp thu thập thông tin thứ cấp, phương pháp nghiên cứu thực địa, phương pháp thống kê mô tả từ đó đánh giá và chỉ ra thực trạng du lịch làng nghề tại Vĩnh Phúc là tinh có vị trí thuận lợi, có tiềm năng dé phát triển du lịch sinh thái, du lịch lễ hội, du lịch làng nghề.
Hoạt động du lịch nói chung và du lịch làng nghề nói riêng của Vĩnh Phúc trong những năm qua đã đạt được kết quả tích cực, số lượng khách du lịch, doanh thu từ du lịch ngày càng tăng. Tuy nhiên, hiệu quả thu được từ du lịch chưa cao, lượng khách đến chưa cao và mang tính tự phát, khả năng sẵn sàng đón khách của các doanh nghiệp lữ hành trên địa bàn tỉnh còn hạn chế. Tính hấp dẫn của sản phẩm du lịch còn hạn chế, các làng nghề làm du lịch còn manh mún; kỹ năng, nghiệp vụ làm du lịch tại làng nghề còn hạn chế; môi trường nhiều làng nghề bi ô nhiễm; sự liên kết giữa các đơn vi lữ hành va làng nghề chưa chặt chẽ. Việc khảo sát thực tiễn hoạt động du lịch Vĩnh Phúc đã giúp tác giả luận văn đưa ra hệ thống giải pháp gồm 6 nhóm: về cơ chê chính sách; vê thị trường; vê nguôn nhân lực; vê von dau tư 11 và cơ sở vật chất kỹ thuật; về bảo tồn và phát huy các giá trị làng nghề; và giải pháp về môi trường tại các làng nghề.
Nguyễn Lê Thu Hiền (2014) nghiên cứu các làng nghề truyền thống gắn liền với phục vụ du lịch ở Thừa Thiên Huế. Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu thống kê, phân tích, nghiên cứu, tổng hợp so sánh. Ngoài ra tác giả sử dụng phương pháp điều tra bảng hỏi khảo sát 151 thợ thủ công, 300 đơn vị sản xuất kinh doanh và 245 lượt du khách. Tác giả đã phân tích và đánh giá thực trạng các làng nghề truyền thống phục vụ du lịch ở tỉnh Thừa Thiên Hué.
Từ đó, tác giả đã xác định phương hướng và đề xuất một số giải pháp phát triển làng nghề truyền thống phục vụ du lịch ở tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2020. Đỗ Thị Hoa (2010) với nghiên cứu “Tim hiểu về làng nghề chè truyền thống (Làng Lây, xã Minh Đức, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên) ” đã tìm hiểu về làng nghề chè truyền thống, quá trình hình thành và những đặc trưng của làng nghề chè truyền thống, đánh giá thực trạng và tiềm năng phát triển nghề và làng nghề, những yếu tố tác động và ảnh hưởng đến việc hình thành và phát triển làng nghề chè truyền thống. Đề tài đã áp dụng các phương pháp định lượng và định tính, phương pháp nghiên cứu liên ngành, nghiên cứu tiến hành điều tra khảo sát thực tế đến làng nghề truyền thống làng Lay bao gồm cả 2 xóm Lay 5 và Lay 6. Qua đó đánh giá được về cơ cấu kinh tế, quy mô sản xuất chè, lực lượng lao động và sản lượng của chè cụ thể: Về quy mô sản xuất chè làng Lầy có tổng diện tích là 60ha, sản lượng bình quân ước đạt tấn chè khô hiện có hơn 150 hộ với trên 300 nhân khẩu tham gia làm nghề chè, trung bình 3-4 năm người dân đã có thu nhập từ cây chè khoảng 23 tạ chẻ khô tương đương khoảng 115 tạ chè tươi, giai đoạn cây đang trưởng thành sản lượng chẻ tang vot và tới giai đoạn già cỗi cây chè không còn tăng nhanh về số lượng.
Từ các kết quả nghiên cứu, tác giả xác định được vai trò nghề chè trong việc chuyên dich cơ cau kinh tế của làng nghề truyền thống. 12 Nguyễn Thị Lan Hương (2022) nghiên cứu đề tài “Chuyển đổi mô hình và mở rộng sinh kế gắn với phát triển du lịch tai các làng nghề truyén thong ven biển Việt Nam”. Trong nghiên cứu trên, tác giả đã có những định nghĩa về sinh kế và vai trò của việc phát triển du lịch tại các làng nghề tạo ra sinh kế cho người dân. Bài viết sử dụng phương pháp tông hợp và phân tích, phương pháp quan sát và khảo sát thực tế.
Bằng cách tiễn hành điều tra xã hội học trên 500 mẫu đồng thời nghiên cứu và xác định được nhóm đối tượng cần ưu tiên phát triển sinh kế trong phạm vi khu vực làng nghề truyền thống bao gồm: Phụ nữ chủ hộ gia đình; Nhóm có thu nhập thấp (những dân chài theo nghề truyền thống); Nhóm hộ kinh doanh và sản xuất nhỏ và siêu nhỏ sản phẩm truyền thống trong khu vực và nhóm ngành nghề ưu tiên mở rộng bao gồm: Sản xuất sản phẩm địa phương kết hợp với cung cấp dịch vụ du lịch; Vận chuyền khách tham quan bằng thuyền; Dịch vụ homestay, cho thuê nhà ở và chế biến ẩm thực địa phương; Các hoạt động biểu diễn nghệ thuật, văn hóa, và đặc biệt là các hoạt động văn hóa giới thiệu nghề truyền thống và các sản phẩm của làng nghề và phát triển từ đó đưa ra những định hướng mở rộng phát triển làng nghề và cải thiện sinh kế làng nghề truyền thống ven bién. Trương Thúy Hang (2009) với nghiên cứu “Hoa động sinh kế chính của hộ gia đình tại một số làng nghé tái chế ở Bắc Ninh”, tác giả đưa ra các khái niệm sinh kế, sinh kế hộ gia đình, chiến lược sinh kế hộ gia đình, làng nghề, làng nghề tái chế. Tìm hiểu hoạt động sinh kế chính, những chiến lược sinh kế của các hộ gia đình tại ba làng nghề của tỉnh Bắc Ninh (Đa Hội thuộc xã Châu Khê, Mẫn Xá thuộc xã Văn Môn, Dương Ô thuộc xã Phong Khê). Nghiên cứu các yếu tô như: nguôồn lực con người, nguồn tài nguyên, nguồn vốn tài chính, von văn hoá, xã hội, thé chế, tác động đến hoạt động sinh kế chính, sự lựa chọn chiến lược sinh kế của các hộ gia đình làng nghề tái chế ở Bắc Ninh.
Nghiên 13 cứu những ảnh hưởng của hoạt động sinh kế hộ gia đình đến môi trường sống và bảo tồn văn hoá phi vật thê của người dân làng nghề tái chế ở Bắc Ninh. Nguyễn Đức Khiêm (2016) với nghiên cứu “Phát triển du lịch cộng đồng nhằm giải quyết việc làm và đảm bảo sinh kế cho người dân tộc Sán Dìu ở Vĩnh Phúc” - tác giả bài viết, chỉ ra các tiềm năng khai thác du lịch cộng đồng của đồng bào dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc trong định hướng phát triển sinh kế cũng như bảo tồn ban sắc văn hóa tộc người là một hướng đi đang được đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc rất quan tâm. Tác giả đã đề xuất một số giải pháp để phát triển du lịch cộng đồng bền vững, hiệu quả đảm bảo sinh kế góp phần tích cực vào xóa đói giảm nghèo cho người dân tộc Sán Diu cụ thé như: nâng cấp ha tầng cơ sở, chú trọng đến các điểm, các làng bản nằm trên tour, tuyến du lịch chính của tỉnh; đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho phát triển du lịch, đặc biệt là đội ngũ thuyết minh và nhân viên phục vụ tại các thôn bản; nâng cao nhận thức cho đồng bào dân tộc Sdn Diu; giữ gin và phục hồi các nét văn hóa đặc sắc của mỗi dân tộc, góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời song cho người dan. Nguyễn Tri Nam Khang, Mai Văn Nam và Dương Quế Nhu (2013) nghiên cứu đề tài: “Giải pháp phát triển làng nghề truyền thong kết hợp với du lịch tỉnh Hậu Giang”.
Trong đề tài, qua phân tích các tỷ số tài chính cho thấy được với các hộ tham gia hoạt động làng nghề là hộ kiêm thì hiệu quả hoạt động luôn cao hơn hộ làng nghề là hộ chuyên. Và hiệu quả sử dụng vốn tại các làng nghề có quy mô doanh thu lớn (làng nghề than) chưa cao. Phân tích hồi quy chỉ ra rằng có 5 biến có tác động đến thu nhập đơn vị của nông hộ: trong đó biến số năm đi học có tác động cùng chiều với Y, số lao động lại có tác động ngược chiều với Y; ngoài ra các biến về loại hình làng nghề đệt chiếu, than và lục bình cũng có tác động làm tăng hoặc giảm biến phụ thuộc Y so với làng nghề đóng ghe xuong. Kết quả phân tích PBA chỉ ra rằng các hộ làng nghề có kết hợp với 14 hoạt động du lịch sẽ có hiệu quả hơn so với các hộ làng nghề truyền thống.
Và qua phân tích ZTCM cũng cho thấy thặng dư mà Hậu Giang nhận được khi đầu tư phát triển du lịch là rat lớn.