Chương 1 Pháp lệnh cán bộ, công chức, được Ủy ban thường vụ quốc hội khóa XI, thông qua ngày 29/04/2003: Cán bộ công chức quy định tại pháp lệnh này gồm những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công việc thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn được xếp vào ngạch hành chính, sự nghiệp trong các cơ quan nhà nước. Mỗi ngạch thể hiện chức và cấp về chuyên môn, nghiệp vụ, có chức danh tiêu chuẩn riêng. Luật công chức (2008) đã xác định: Cán bộ là công dân Việt Nam được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trương ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) ở huyện, quận, thị xã,thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [28]. Theo từ điển Tiếng Việt, CBQL là “ người làm 16 công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người không có chức vụ”[35].
CBQL có thể là cấp trưởng, cấp phó hoặc một tổ chức được cấp trên bổ nhiệm bằng quyết định hành chính nhà nước. Cấp phó giúp việc cho cấp trưởng, chịu trách nhiệm trước cấp trưởng và chịu trách nhiệm trước pháp luật về công việc được giao. Vậy CBQL là chủ thể quản lý, là người có chức vụ trong tổ chức được cấp trên ra quyết định bổ nhiệm; người giữ vai trò dẫn dắt, tác động, ra lệnh, kiểm tra đối tượng quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu của đơn vị. Người CBQL phải có phẩm chất và năng lực nổi trội hơn người khác, là tấm gương cho mọi người trong đơn vị noi theo.
CBQL nhà trường chính là đội ngũ hiệu trưởng, phó hiệu trưởng được bổ nhiệm (với tiểu học là Chủ tịch huyện) và thực hiện các quyền hạn, trách nhiệm của mình theo văn bản của các cấp có thẩm quyền (Luật Giáo dục 2005, Điều lệ trường tiểu học,. Trong những năm gần đây, lý luận về quản lý giáo dục, xây dựng phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, quản lý nhà trường đã phát triển mạnh. Nhiều công trình, bài viết, nghiên cứu của nhiều tác giả bàn về quản lý trường học và các hoạt động quản lý nhà trường có giá trị, đáng lưu ý là: Giáo trình khoa học quản lý của Phạm Trọng Mạnh [20]; “Khoa học tổ chức và quản lý một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Trung tâm nghiên cứu khoa học tổ chức quản lý [25]; “Tâm lý học quản lý” của Ngô Công Hoàn [15]; Tập bài giảng lý luận đại cương về quản lý của Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc [9]. Trong các nghiên cứu đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ QLGD tại các trường học, góp phần nâng cao hiệu quả QLGD ở địa phương trong giai đoạn mới, đã có một số đề tài nghiên cứu như: - Luận văn Thạc sĩ: Các biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường học Tỉnh Bắc Ninh đến năm 2010 của Nguyễn Văn Ngọc [21] - Luận văn Thạc sĩ: Các giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường học huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2011-2015 của Đỗ Văn Ngọt [22] - Luận văn Thạc sĩ: Biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường học Sơn La đến năm 2020 của Đỗ Thị Minh Liên [18] 17 Các đề tài trên chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu thực trạng về số lượng, cơ cấu xây dựng đội ngũ CBQL trường học của một số địa phương cụ thể, chưa đề cập đến việc phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường học một cách đồng bộ về cơ cấu, đảm bảo về phẩm chất chính trị và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng những yêu cầu của đổi mới Giáo dục-Đào tạo trong giai đoạn hiện nay.
Mô hình quản lý trường học ưu việt SREM xác định: “Một người lãnh đạo có năng lực lãnh đạo tốt, có sự tôn trọng và thông cảm với đồng nghiệp sẽ là động lực cho người khác noi theo. Với vai trò của mình, Hiệu trưởng phải vạch ra một tầm nhìn với những thành tích, kết quả dự định đạt được và tạo ra môi trường học tập lý tưởng cho học sinh và giáo viên. Hiệu trưởng cần duy trì liên tục mục đích tăng cường năng lực cho Giáo viên để đối mặt với thử thách hiện tại và tương lai, luôn phấn đấu vì sự phát triển để hướng tới nền Giáo dục toàn diện cho học sinh và giáo viên”.[2] Trong kỷ nguyên mới, chất lượng nguồn nhân lực trở thành điều kiện tiên quyết để phát triển KT-XH. Do đó, phát triển đội ngũ HT trong các nhà trường phổ thông với tư cách là nguồn nhân lực chất lượng cao của toàn XH, có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với các quốc gia.
Yêu cầu đặt ra cho người làm công tác GD phải có một khuôn mẫu mới, với mức độ chuyên môn cao hơn và liên tục trau dồi tài năng để đương đầu với thách thức mới. Hệ thống các tiêu chuẩn của HT trường học sẽ đảm bảo cho các giá trị cơ bản của nhà QL được thực thi trong tương lai. Tác giả Trần Ngọc Giao [12]chủ trì nhóm xây dựng chuẩn Hiệu trưởng trường phổ thông, đã tổng thuật chuẩn Hiệu trưởng của một số nước, đưa ra các yêu cầu đối với Hiệu trưởng trường phổ thông Việt Nam, xuất phát từ nhiệm vụ của HT. Theo tác giả, đặc điểm nghề nghiệp của Hiệu trưởng đòi hỏi trình độ học vấn và tầm văn hóa, đòi hỏi năng lực và kinh nghiệm sư phạm, đòi hỏi năng lực và lãnh đạo quản lý, đòi hỏi khả năng giao tiếp, tuyên truyền và thuyết phục, đòi hỏi phẩm chất đạo đức và sự tận tâm.
Hiệu trưởng phải là nhà giáo, nhà lãnh đạo và nhà quản lý. Với những tiếp cận khác nhau, hoặc là đi từ hoạt động của Hiệu trưởng, hoặc đi từ nhiệm vụ của Hiệu trưởng, các nghiên cứu đã xác định vai trò cơ bản của Hiệu trưởng, đưa ra các tiêu chuẩn, tiêu chí mà Hiệu trưởng cần đạt được để lãnh đạo, quản lý nhà trường. Ở nước ta, phát triển Hiệu trưởng theo chuẩn là vấn đề còn khá mới. Các nghiên cứu đề cập tới việc phát triển đội ngũ CBQL giáo dục trong nhà trường nói chung và nghiên cứu về phát triển đội ngũ Hiệu trưởng trường Trung học cơ sở theo 18 hướng chuẩn hóa chưa nhiều.
Đặc biệt tại huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Đây chính là động lực giúp tôi định hướng rõ vấn đề nghiên cứu về nội dung phát triển đội ngũ Hiệu trưởng trường Trung học cơ sở theo chuẩn Hiệu trưởng huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Các kết quả nghiên cứu của đề tài: “Phát triển đội ngũ Hiệu trưởng trường Trung học cơ sở theo chuẩn ở huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội”, có thể góp phần đổi mới công tác QLGD trong giai đoạn hiện nay của huyện Gia Lâm. Một số khái niệm cơ bản 1.
Khái niệm Chuẩn, chuẩn hóa Có những cách biểu đạt khác nhau về khái niệm chuẩn: - Theo định nghĩa trong Bách khoa toàn thư giáo dục quốc tế “chuẩn là mức độ ưu việt cần phải có để đạt được những mục đích đặc biệt, là cái đo xem điều gì phù hợp, là trình độ thực hiện mong muốn trên thực tế hoặc mang tính xã hội. Chuẩn là cái gì đó được định ra, được xác định như một luật lệ, cho sự đo lường về số lượng, trọng lượng, phạm vi, độ lớn giá trị hay chất lượng, chuẩn còn được hiểu là tiêu chí so sánh để xác định mức độ đạt được. Kết hợp các ý trên có thể nói rằng chuẩn vừa là tiêu chí, vừa là cái gì đó sử dụng cho việc đo lường sự tiến bộ.[25] - Chuẩn hóa là những quá trình làm cho sự vật, đối tượng thuộc phạm trù nhất định đáp ứng được các chuẩn đã ban hành trong phạm vi áp dụng và hiệu lực của chuẩn đó. Vai trò của chuẩn hóa là nhằm duy trì, ổn định và phát triển tổ chức.
Tổ chức được duy trì, ổn định và phát triển như thế nào phụ thuộc vào quá trình chuẩn hóa được thể hiện trong các tổ chức đó, bởi bản chất của chuẩn hóa là làm cho các đối tượng, các quá trình của tổ chức đáp ứng đáp ứng được các chuẩn ban hành, cho môi trường chính thức cho sự phát triển của tổ chức. Khái niệm phát triển Khái niệm phát triển đề cập ở đây là phát triển con người, Theo tác giả Phạm Minh Hạc [12], những đặc điểm cơ bản của sự phát triển toàn diện ở con người là hài hòa cân đối và cân bằng; tích hợp; toàn vẹn và chỉnh thể; liên tục không gián đoạn; ổn định, bền vững; đầy đủ và hoàn toàn. Sự phát triển con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế là phát triển về khả năng con người, năng lực trí tuệ và kĩ năng hành dụng; Trình độ nghiệp vụ chuyên môn hóa; Khả năng hợp tác và cạnh tranh; Khả năng di chuyển nghề nghiệp; Khả năng hoạch định đánh giá; Sức chịu đựng stress do nhịp độ sống và môi trường công nghiệp gây ra; Học vấn 19 chung về công nghệ; Hiểu biết xã hội; Hiểu biết hành chính; Nhu cầu, sở thích tinh thần tương đối rõ; Tính kỷ luật; Tính độc lập của lý trí và tình cảm; Năng động và hiệu quả trong công việc. Từ những quan niệm nêu trên, ta có thể hiểu phát triển là biểu hiện sự thay đổi, sự tăng tiến cả về số lượng lẫn chất lượng của sự vật, hiện tượng, của con người trong cộng đồng và xã hội.
Khái niệm đội ngũ, Hiệu trưởng, phát triển đội ngũ Hiệu trưởng - Đội ngũ là tập hợp gồm số đông người cùng chức năng, nhiệm vụ, nghề nghiệp hợp thành lực lượng hoạt động trong hệ thống (tổ chức) và cùng chung một mục đích nhất định và cùng hướng tới mục đích đó. [24] - Theo điều 54-Luật Giáo dục- Năm 2005 (Được sửa đổi bổ sung năm 2009) quy định: “Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của nhà trường, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm công nhận”. - Phát triển đội ngũ Hiệu trưởng được hiểu là tạo ra sự thay đổi về “chất” hướng tới mục tiêu chuẩn hóa đội ngũ để có một lực lượng đủ về số lượng, phù hợp về cơ cấu, đảm bảo chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển của KT-XH. Đây là nhiệm vụ trọng tâm và then chốt của ngành giáo dục trong những năm qua.