phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục các công trình đã công bố của tác giả, tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận án đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về phát triển đội ngũ giảng viên các trƣờng Cao đẳng trong bối cảnh đổi mới giáo dục nghề nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng đội ngũ giảng viên và phát triển đội ngũ giảng viên các trƣờng Cao đẳng vùng Đồng bằng Sông Hồng trong bối cảnh đổi mới giáo dục nghề nghiệp. Chƣơng 3: Giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên của các trƣờng Cao đẳng vùng Đồng bằng Sông Hồng trong bối cảnh đổi mới giáo dục nghề nghiệp. luan an 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƢỜNG CAO ĐẲNG TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các công trình nghiên cứu trên thế giới 1. Các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực Những năm cuối thập niên 60 của thế kỷ XX, các khái niệm “vốn con ngƣời” (Human capital) và “nguồn lực con ngƣời” (Human resources) xuất hiện ở Hoa Kì và sau đó thịnh hành trên thế giới (xuất hiện cuối thập niên 60 bởi nhà kinh tế học ngƣời Mĩ - Theodor Schoultz, sau đó vào những năm 70, 80 với sự phát triển tiếp nối của nhà kinh tế ngƣời Mĩ nhận giải Nobel kinh tế 1992 Gary Backer, vấn đề phát triển ĐNGV cũng đƣợc ông giải quyết với tƣ cách là phát triển NNL của một ngành, lĩnh vực. Tuy nhiên, nội dung và cách thức giải quyết vấn đề có sự khác nhau ở nhiều mức độ và phụ thuộc rất lớn vào điều kiện thực tế của mỗi quốc gia và của mỗi giai đoạn lịch sử.
Từ năm 1980, nhà xã hội học ngƣời Mĩ, Leonard Nadle đã đƣa ra sơ đồ quản lí NNL để diễn tả mối quan hệ và các nhiệm vụ của công tác quản lí NNL. Ông cho rằng quản lí NNL phải có 3 nhiệm vụ chính (cùng các nhiệm vụ thành tố) là: i) Phát triển nguồn nhân lực (gồm GD&ĐT, bồi dƣỡng, phát triển, nghiên cứu, phục vụ); ii) Sử dụng NNL (gồm tuyển dụng, sàng lọc, bố trí, đánh giá, đãi ngộ, kế hoạch hoá sức lao động); iii) Môi trƣờng NNL (gồm mở rộng chủng loại việc làm, mở rộng qui mô làm việc, phát triển tổ chức) - (dẫn theo [43, tr. Kết quả nghiên cứu của Leonard Nadle đã đƣợc nhiều nƣớc trên thế giới sử dụng. Christian Batal (Pháp) trong bộ sách “Quản lí nguồn nhân lực trong khu vực nhà nƣớc”[43, tr.257, tập 2] cũng đã khai thác theo hƣớng này và đƣa ra một lí thuyết tổng thể về quản lí phát triển NNL.
Trong đó, Christian Batal đã sử dụng kết quả nghiên cứu của các khoa học khác (giáo dục học, dự báo, dân số học, toán luan an 10 học.) để đƣa ra một bức tranh hoàn chỉnh của nhiệm vụ quản lí phát triển NNL, bao gồm từ khâu kiểm kê, đánh giá đến nâng cao năng lực, hiệu lực của NNL.Becker và Markv A.Huselid [10] “ Sổ tay ngƣời quản lý- Quản lý nhân sự” cũng có sự khai thác phục vụ cho quản lý nhân sự trong các doanh nghiệp; Tác giả F. Các công trình nghiên cứu về giảng viên và đội ngũ giảng viên Tiêu biểu cho nhóm công trình nghiên cứu về vị trí, vai trò, chức năng nhiệm vụ của giảng viên nhƣ: Maurice Kogan và Ulrich Teichler (2007) với công trình “Những thách thức chủ yếu với nghề giảng dạy”[130]; Phillip G. Khi đề cập đến phát triển ĐNGV, ngoài sự thống nhất về nội dung các nhiệm vụ với quản lí phát triển NNL, thời gian gần đây những nghiên cứu trên thế giới đều dành sự quan tâm đặc biệt đến chất lƣợng GV; đề cao việc thúc đẩy phát triển bền vững và thích ứng nhanh của mỗi GV và cả đội ngũ. Trong đó, việc xuất hiện các công nghệ dạy học mới, dẫn đến nhu cầu thay đổi vai trò và phƣơng pháp của ngƣời thầy càng trở nên cấp thiết; các hình thức bồi dƣỡng GV cũng trở nên đa dạng và phong phú; quan tâm cách thức bồi dƣỡng theo mô đun; kèm theo đó là chính sách giảm giờ dạy trên lớp của GV và coi trọng cơ cấu quan hệ về chức danh giữa tỉ lệ giáo sƣ với trợ giảng và trợ lí (dẫn theo [117], [119], [122], [125],…).
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (1994) với công trình nghiên cứu “Những định hƣớng phát triển ĐNGV cho thế kỷ XXI” [136]; Lee Little Soldier (2009) với “Những chiến lƣợc hiệu quả dành cho Gv và các nhà lãnh đạo giáo dục trong kỷ nguyên toàn cầu hóa”[66],… Daniel R.Beerens chủ trƣơng tạo ra một “nền văn hoá” về sự thúc đẩy và luan an 11 học hỏi trong đội ngũ (Creating a Culture of Motivation and Learning), coi đó là giá trị mới của nhà giáo.Beerens cho rằng, t nh động trong t ng trưởng và luôn luôn mới là tiêu chí trung tâm của đội ngũ nhà giáo ngày nay [123]. Một nghiên cứu tƣơng tự trong công trình chung của các thành viên OECD (Tổ chức Hợp tác Phát triển Châu Âu) đã chỉ ra chất lƣợng nhà giáo gồm 5 mặt: i) Kiến thức phong phú về phạm vi chƣơng trình và nội dung bộ môn mình dạy; ii) Kĩ năng sƣ phạm, kể cả việc có đƣợc “kho kiến thức” về PPDH, về năng lực sử dụng những phƣơng pháp đó; iii) Có tƣ duy phản ánh trƣớc mỗi vấn đề và có năng lực tự phê, nét rất đặc trƣng của nghề dạy học; iv) Biết cảm thông và cam kết tôn trọng phẩm giá của ngƣời khác; v) Có năng lực quản lí, kể cả trách nhiệm quản lí trong và ngoài lớp học (dẫn theo [128, tr. Nhà giáo phải vừa là nhà chuyên môn, ngƣời lãnh đạo (lãnh đạo hoạt động của lớp học và lãnh đạo chuyên môn) cũng đƣợc nhấn mạnh trong chuẩn nhà giáo của Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc và nhiều nƣớc khác. Trong GDĐH, một cách tiếp cận tƣơng tự: Giảng viên đại học = Nhà giáo + Nhà khoa học + Nhà quản l + Nhà cung ứng xã hội, đã đƣa ra về quan niệm và yêu cầu phát triển GV trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Các công trình nghiên cứu trong nước Ở nƣớc ta ngay từ các cuộc cải cách giáo dục 1950, 1956 đến thời kì kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ đã để lại những bài học quí báu về phát triển đội ngũ nhà giáo, nhƣ: “Nêu cao tinh thần dù khó khăn đến đâu cũng phải thi đua dạy tốt, học tốt, luôn luôn tìm ra những giải pháp tình thế để thích ứng tình hình; coi trọng ĐT, BD thƣờng xuyên và yêu cầu sự tự trau dồi của mỗi nhà giáo; biết dựa vào dân để phát triển đội ngũ nhà giáo”[2]. Trong lĩnh vực GDĐH những năm gần đây, nhiều giải pháp phát triển ĐNGV đã đƣ- ợc nghiên cứu và áp dụng. Đặc biệt, từ khi tiến hành đổi mới cơ bản và toàn diện GDĐH Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết 14/NQ-CP của Chính phủ luan an 12 thì nhiều dự án và công trình khoa học liên quan đến ĐNGV đã đƣợc thực hiện. Có thể kể đến các công trình và tác giả theo từng chủ đề nghiên cứu, nhƣ sau: 1.
Nhóm công trình nghiên cứu đề cập về vai trò nguồn nhân lực Quán triệt các Nghị quyết của Đảng, chủ trƣơng chính sách của Nhà nƣớc, trong nhiều năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu bàn về quản lí phát triển NNL, phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH ở nƣớc ta: [59], [73], [77], [78], [95], [97], [98], [99],. Mỗi công trình đề cập đến những khía cạnh khác nhau, nhƣng điểm chung có thể rút ra là: khẳng định vai trò của NNL trong phát triển KT- XH; thống nhất cơ bản với các nghiên cứu của thế giới về nội dung phát triển NNL và đề xuất sự vận dụng, với những giải pháp sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của n- ƣớc ta. Nhìn tổng thể, các công trình nghiên cứu trên đã khái quát đƣợc những vấn đề cơ bản về phát triển NNL Việt Nam trong những năm đầu của thế kỉ 21. Nhóm công tình nghiên cứu về đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục đại học - Dự án hỗ trợ Bộ GD&ĐT, do Uỷ ban Châu Âu tài trợ, chủ yếu đi sâu vào các qui trình quản lí NNL của ngành.
Liên quan đến phát triển đội ngũ nhà giáo có các nội dung: xây dựng chƣơng trình phần mềm tin học (PMIS và EMIS) nhằm nâng cao năng lực thống kê, quản lí nhân sự; ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lí; đánh giá tổng thể về thể chế tổ chức, các nội dung quản lí và tác động của nó lên hệ thống, từ đó đƣa ra những nhận định chung, đề xuất các mục tiêu và hệ giải pháp chiến lƣợc, chủ yếu áp dụng cho cấp Trung ƣơng (cấp hoạch định chính sách). Một số phần mềm quản lí nhân sự từ Dự án này đã đƣợc áp dụng trong cả nƣớc, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu thập thông tin cần thiết về đội ngũ, góp phần đắc lực cho các NCKH liên quan (Nguồn: Kế hoạch và tài liệu tổng kết dự án, Hà Nội, 12/2004). - Tháng 7/2005, Bộ GD&ĐT công bố Đề án đổi mới GDĐH Việt Nam; và ngày 02/11/2005, Chính phủ ban hành Nghị quyết 14/NQ-CP về đổi mới cơ bản và toàn diện GDĐH Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020; nội dung đề án có phần luan an 13 đánh giá khái quát tình hình GDĐH Việt Nam thời gian qua, đồng thời đƣa ra quan điểm, mục tiêu, những giải pháp đổi mới GDĐH, trong đó có giải pháp đổi mới công tác qui hoạch, ĐT, BD và sử dụng GV. - Bên cạnh đó, nhiều tổ chức và các nhà khoa học cũng có các nghiên cứu và đánh giá về GDĐH Việt Nam dƣới những góc độ khác nhau: Dự án GDĐH 1 (Sử dụng vốn vay Ngân hàng Thế giới), có nghiên cứu “Khảo sát tình hình việc làm của SV tốt nghiệp ĐH&CĐ”; Dự án GDĐH 2, có tiểu thành phần nhằm “Nâng cao năng lực nghiên cứu, cải tiến giảng dạy, học tập, tạo lập gắn kết giữa nghiên cứu, giảng dạy và nhu cầu phát triển KT - XH”; “Báo cáo đánh giá của chuyên gia Hoa Kì về một số chƣơng trình GDĐH của Việt Nam”, do VEF tổ chức thực hiện; “Kết quả tự đánh giá và đánh giá ngoài 20 trƣờng ĐH trong các năm từ 2005 đến 2007” (có sự tham gia của các chuyên gia Hà Lan và Hoa Kì); Bùi Mạnh Nhị (Chủ nhiệm đề tài), “Các giải pháp cơ bản nâng cao chất lƣợng GDĐH”, (Đề tài cấp Bộ trọng điểm, do Trƣờng ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện từ tháng 4/2004 đến tháng 4/2006).