Chương 1. Lí luận về phát triển đội ngũ cán bộ quản lí trường trung học cơ sở đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Thực trạng phát triển đội ngũ cán bộ quản lí trường trung học cơ sở huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lí trường trung học cơ sở huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÍ TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Giữa thế kỷ 18, một số nhà khoa học như Robert Owen (1771-1858), Charles Babbage (1792-1871) đã đưa ra những quan điểm tìm giải pháp QL với việc nâng cao năng suất lao động và nâng cao trình độ QL. Tiếp đó, Frederick Winslow Taylor (1856-1915) có công trình Những nguyên tắc quản lí khoa học (The Principles of Scientific Management) xuất bản năm 1911.
Trong công trình này F. Taylor đã đưa ra bốn nguyên tắc QL khoa học đề cập đến việc tuyển chọn, huấn luyện công nhân, sự hợp tác cần thiết của người QL với người bị QL nhằm nâng cao chất lượng của người QL. Henri Faylor (1841-1925) với công trình Tổng quát về quản lí hay Thuyết quản trị (Adiministration Industriell et Generale) xuất bản năm 1916 với cống hiến lớn nhất của ông là đưa ra 5 chức năng QL cơ bản, 16 quy tắc về chức trách QL và 14 nguyên tắc QL hành chính. Theo ông, nếu người QL có đủ phẩm chất và năng lực, kết hợp nhuần nhuyễn các chức năng, quy tắc và nguyên tắc QL thì chất lượng và hiệu quả công việc, năng suất lao động được nâng cao.
Vào những năm 70-80 của thế kỷ XX, một trường phái tiếp cận về QL trên cơ sở xem xét những yếu tố văn hóa giữa con người với con người. Công trình nghiên cứu của giáo sư William (Trường Đại học California, Hoa Kì) đã khẳng định yếu tố quan trọng của văn hóa trong QL và nêu ra 7 yếu tố có ảnh hưởng đến hiệu quả QL được mô tả trong sơ đồ 7S: Strategy (chiến lược), Skills (kỹ năng), Style (cách thức), System (hệ thống), Structure (cơ cấu), Shared value (các giá trị chung) và đặc biệt là Staff (đội ngũ). 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở Liên Xô (trước đây), các công trình nghiên cứu, xét ở góc độ lí luận GD học, các tác giả đã đề cập tới lực lượng GD. Tiêu biểu là công trình của các nhà khoa học nổi tiếng như Ilina T.A với tác phẩm Giáo dục học (tập 3: Những cơ sở của công tác giáo dục); Savin N.V với tác phẩm Giáo dục học (Chương 22, tập 2: Những vấn đề cơ bản của QL nhà trường)… đã nêu rõ vai trò, vị trí, chức năng của CBQL trường học.
Khi xã hội công nghiệp có sự bùng nổ thông tin và chuyển dần thành xã hội thông tin, các nhà khoa học nghiên cứu về QL đã có các công trình về QL trong môi trường luôn biến đổi, QL theo quan điểm hệ thống, QL tình huống và vấn đề chất lượng người QL đã được đề cập tới với những yêu cầu và cách thức nâng cao chất lượng đội ngũ. Gần đây Trung Quốc có công trình nghiên cứu của Vương Lạc Phu, Tưởng Nguyệt Thần với tác phẩm “Khoa học lãnh đạo hiện đại” chú ý đến vấn đề chất lượng của cán bộ lãnh đạo và QL. Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều coi hoạt động bồi dưỡng đội ngũ giáo viên và CBQL giáo dục là vấn đề cơ bản trong phát triển giáo dục. Việc tạo mọi điều kiện để mọi người có cơ hội học tập, học tập thường xuyên, học tập suốt đời để kịp thời bổ sung kiến thức và đổi mới phương pháp cho phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội là phương châm hành động của các cấp quản lí giáo dục.
Nghiên cứu ở trong nước Trong sự nghiệp cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến sự nghiệp GD, trong đó đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng về vấn đề phát triển đội ngũ CBQL. Điều đó được thể hiện qua các chủ trương, chính sách, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật. Tiêu biểu là Chỉ thị số 40-CT/TW, ngày 16/6/2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục; Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg ngày 11/01/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lí giáo dục giai đoạn 2005-2010”; Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2009-2020 của Bộ GD&ĐT. Nhiều nhà khoa học Việt Nam như: Phạm Minh Hạc, Thái Duy Tuyên, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Gia Quý, Trần Kiểm…đã có các công trình nghiên cứu về khoa học QL và QLGD.
Các tác giả đã nghiên cứu, đề xuất những giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL, GV nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của sự nghiệp GD&ĐT. Trong những năm gần đây, tại các cơ sở GD Đại học, các Học viện, Viện nghiên cứu đã có một số Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành QLGD nghiên cứu cùng hướng với đề tài. Các nghiên cứu đã đề cập đến xây dựng đội ngũ nhà giáo và CBQLGD ở các cấp độ khác nhau. Trong các nghiên cứu, các tác giả đã đề cập đến nhiều khía cạnh của vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên, đội ngũ CBQL trường trung học, khảo sát thực trạng về tình hình phát triển đội ngũ giáo viên, CBQL của địa phương nơi các tác giả công tác và đề xuất các biện pháp thiết thực nhằm thực hiện tốt hơn công tác phát triển đội ngũ giáo viên, CBQL trường phổ thông.
Tuy nhiên, vấn đề phát triển đội ngũ CBQL trường THCS còn ít được đề cập, đặc biệt ở huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam chưa có tác giả nào đề cập, nghiên cứu. Trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu, các công trình đã công bố, tác giả nghiên cứu vấn đề phát triển đội ngũ CBQL trường THCS huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lí và quản lí giáo dục 1.
Quản lí Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của cá nhân, của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, quốc tế và đều phải thừa nhận và chịu một sự QL nào đó.Mác khẳng định: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [15,tr. Thuật ngữ “quản lí” đã được nhiều tác giả định nghĩa theo các cách tiếp cận khác nhau: Trong Từ điển Tiếng Việt, quản lí là “tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [27,tr. Ngoài ra, quản lí cũng thường được định nghĩa dưới nhiều góc độ khác nhau: - Dưới góc độ khái quát nhất, quản lí là vạch ra mục tiêu cho một bộ máy, lựa chọn phương tiện, điều kiện tác động đến bộ máy để đạt được mục tiêu.
- Dưới góc độ kinh tế, quản lí là tính toán sử dụng hợp lí các nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu tối ưu. - Dưới góc độ chính trị - xã hội, quản lí là sự kết hợp giữa tri thức và lao động. Sự phát triển của xã hội từ thời kì sơ khai đến nay bao giờ cũng bao gồm 3 yếu tố: tri thức, sức lao động và quản lí. Trong đó quản lí tạo nên sự kết hợp giữa tri thức và lao động.
Xã hội loài người phát triển như thế nào phụ thuộc vào sự kết hợp này. - Dưới góc độ hành động, quản lí là quá trình điều khiển của chủ thể quản lí tới đối tượng quản lí để đạt được mục tiêu đã đề ra. - Theo cách tiếp cận hệ thống: quản lí là sự tác động của chủ thể quản lí đến khách thể quản lí (hay đối tượng quản lí) nhằm tổ chức, phối hợp hoạt động của con người trong các quá trình sản xuất - xã hội để đạt được mục đích đã định. - Quan niệm truyền thống: quản lí là quá trình tác động có ý thức của chủ thể vào một bộ máy (đối tượng quản lí) bằng cách vạch ra mục tiêu cho bộ máy, tìm kiếm các biện pháp tác động để bộ máy đạt tới mục tiêu đã xác định.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Quan niệm hiện nay: quản lí là những hoạt động có phối hợp nhằm định hướng và kiểm soát quá trình tiến tới mục tiêu. Quản lí với tư cách là một ngành khoa học, nhiều tác giả cũng có những cách định nghĩa khác nhau: F.Taylor cho rằng: "Quản lí là biết chính xác điều muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất" [15,tr.Koontz lại khẳng định: "Quản lí là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm" [15,tr. Mục tiêu của quản lí là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Quản lí là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất trong các hoạt động của con người.
Quản lí đúng tức là con người đã nhận thức được quy luật, vận động theo quy luật và sẽ đạt được thành công theo ý muốn. Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “Quản lí là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lí, người tổ chức quản lí) lên khách thể (đối tượng quản lí) về các mặt chính trị, xã hội, văn hoá, kinh tế. bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể, nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [11,tr.