CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề Từ thuở bình minh của nhân loại, quản lý là vấn đề được đặc biệt quan tâm. Hoạt động quản lý bắt nguồn tự sự phân công, hợp tác lao động. Chính sự phân công, hợp tác lao động nhằm đạt hiệu quả tốt hơn, năng suất cao hơn.
Trong công việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp điều hành, kiểm tra, chỉnh lý.phải có người đứng đầu. Đây là hoạt động giúp người thủ trưởng, người đứng đầu phối hợp nỗ lực của các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng, trong tổ chức đạt mục tiêu đề ra. Trong sự nghiệp cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến sự nghiệp giáo dục; trong đó đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng về vấn đề phát triển đội ngũ CBQL. Điều đó được thể hiện qua các chủ trương, chính sách, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật; tiêu biểu gần đây nhất là Chỉ thị số 40-CT/TW, ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư TW Đảng về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục [1].
Nhiều nhà khoa học Việt Nam như: Phạm Minh Hạc, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đặng Quốc Bảo, Trần Kiểm…đã chắt lọc những vấn đề tinh túy nhất của hầu hết các tác phẩm quản lý của nước ngoài để thể hiện trong các công trình nghiên cứu của mình về khoa học quản lý nói chung và quản lý nguồn nhân lực nói riêng, cụ thể như: Nội dung “Quản lý nguồn nhân lực” trong cuốn “Đại cương khoa học quản lý” của tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc [9]; nội dung “Quản lý giáo dục nói chung và quản lý phát triển nguồn nhân lực trong giáo dục nói riêng” trong cuốn “Quản lý giáo dục- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc (chủ biên), Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Trọng Hậu, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Sỹ Thư [26]. Ngoài các nhà khoa học và các nhà giáo dục đã nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến đề tài, tại Trường Đại học Giáo dục- Đại học Quốc gia Hà 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nội một số luận văn thạc sỹ chuyên ngành QLGD có những tác giả nghiên cứu cùng hướng với đề tài như: “Quản lý phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái”- Trần Văn Cẩn, năm 2009; “Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay”- Trần Hải Bằng, năm 2010; “Biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học cơ sở huyện An Lão thành phố Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay”- Nguyễn Cao Lân, năm 2011; “Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học cơ sở huyện huyện Bắc Sơn- Lạng Sơn”- Hoàng Quốc Tuấn, năm 2013. Ngoài ra, cũng có luận văn thạc sỹ đề cập đến loại hình trường PTDT bán trú như: “Mô hình quản lý trường PTDT bán trú ở các xã đặc biệt khó khăn của tỉnh Hà Giang”- Phạm Huy Trà, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, năm 2010. Tuy nhiên, vấn đề phát triển đội ngũ CBQL trường PTDT bán trú huyện Văn Chấn chưa có tác giả nào đề cập, nghiên cứu.
Vì thế, việc nghiên cứu biện pháp phát triển đội ngũ CBQL trường PTDT bán trú huyện Văn Chấn là cần thiết. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Khái niệm quản lý Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, mọi hoạt động của đời sống xã hội đều cần tới quản lý, sử gia Daniel A.Wren đã từng nhận xét “Quản lý cũng xưa cũ như chính con người vậy” [9], có nghĩa là hoạt động quản lý xuất hiện gắn liền với sự xuất hiện của loài người. Trải qua các thời kỳ phát triển của xã hội loài người, từ nền văn minh mông muội, đến nền văn minh lúa nước, nền văn minh công nghiệp và hiện nay xã hội loài người đang bước vào nền văn minh tri thức thì hoạt động quản lý càng trở lên phổ biến và tiếp tục khẳng định vai trò của mình trong các hoạt động của đời sống con người.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về khoa học quản lý tùy theo các quan điểm tiếp cận: 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nói đến hoạt động quản lý người ta hay nhắc đến ý tưởng sâu sắc của K. Mác (1818-1883): “Một nghệ sỹ vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần nhạc trưởng”.P Follett (1868-1933), đại diện của thuyết hành vi trong quản lý cho rằng: “Quản lý là quá trình động, liên tục, kế tiếp nhau chứ không tĩnh tại. Bởi một vấn đề đã được giải quyết, thì trong giải quyết đó, người quản lý sẽ phải đương đầu với những vấn đề mới nảy sinh” [9]. Theo quan điểm chính trị xã hội: Quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, người tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế.bằng một hệ thống luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng.
Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã đưa ra khái niệm: “Hoạt động quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [9] Từ các định nghĩa chúng ta có thể hiểu như sau: Quản lý là các tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý)- trong một tổ chức- nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức. Trong giáo dục nhà trường đó là tác động của người quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng khác nhằm thực hiện hệ thống các mục tiêu giáo dục. Quản lý có bốn chức năng cơ bản: Kế hoạch hoá, tổ chức, lãnh đạo-chỉ đạo và kiểm tra. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kế hoạch hoá: Kế hoạch hoá có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó.
Có ba nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hoá: a) xác định, hình thành mục tiêu đối với tổ chức; b) xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu này; c) quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêu đó. Tổ chức: Khi người quản lý đã lập xong kế hoạch, họ cần phải chuyển hoá những ý tưởng khá trừu tượng ấy thành hiện thực. Một tổ chức lành mạnh sẽ có ý nghĩa quyết định đối với sự chuyển hoá như thế. Xét về mặt chức năng quản lý, tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức.
Nhờ việc tổ chức có hiệu lực, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn vật lực và nhân lực. Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người quản lý sử dụng các nguồn lực này sao cho có hiệu quả và có kết quả. Lãnh đạo-Chỉ đạo: Chỉ đạo là phương thức hoạt động thực hiện mục tiêu kế hoạch. Về thực chất, chỉ đạo là những hoạt động xác lập quyền chỉ huy và sự can thiệp của người lãnh đạo trong toàn bộ quá trình quản lý, huy động mọi lực lượng vào việc thực hiện kế hoạch nhằm đảm bảo các hoạt động của tổ chức diễn ra trong kỷ cương trật tự.
Sau khi kế hoạch đã được lập, cơ cấu bộ máy đã hình thành, nhân sự đã được tuyển dụng thì phải có ai đõ đứng ra lãnh đạo, dẫn dắt tổ chức. Hiển nhiên việc lãnh đạo không chỉ bắt đầu sau khi việc lập kế hoạch và thiết kế bộ máy đã hoàn tất, mà nó thấm vào, ảnh hưởng quyết định tới hai chức năng kia. Kiểm tra: Kiểm tra là chức năng cuối cùng trong quá trình quản lý và cũng là điểm khởi đầu làm tiền đề cho việc ra quyết định, lập kế hoạch… Đó là công việc đo lường và điều chỉnh các hoạt động của các bộ phận trong tổ 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chức, là việc đánh giá kết quả thực hiện các mục tiêu của tổ chức, nhằm tìm ra những mặt ưu điểm, mặt hạn chế để điều chỉnh việc kế hoạch hoá, tổ chức, lãnh đạo. Quản lý vừa được xem như một “khoa học”, sử dụng tri thức của rất nhiều môn khoa học tự nhiên và xã hội khác nhau như toán học, thống kê, tâm lý học, xã hội học.Đồng thời quản lý được xem như là một “nghệ thuật”, do đó đòi hỏi các nhà quản lý trong quá trình quản lý phải luôn chủ động, khéo léo, linh hoạt, tổ chức, điều khiển, hướng dẫn mọi thành viên trong tổ chức của mình cùng hướng tới mục tiêu xác định.
Quản lý giáo dục, quản lý trường học 1. Quản lý giáo dục Quản lý giáo dục được hiểu là quản lý quá trình GD&ĐT, tùy theo các cấp độ thì sự QLGD sẽ khác nhau. Gồm hai nội dung chính: Quản lý nhà nước về giáo dục; quản lý nhà trường và các CSGD khác. QLGD là việc thực hiện và giám sát những chính sách GD&ĐT trên cấp độ quốc gia, vùng, địa phương và cơ sở.
Các nhà lý luận và quản lý đã đưa ra một số định nghĩa về “Quản lý giáo dục” dưới các góc độ khác nhau: Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang:“Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [26]. Theo tác giả Bush T. 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.