Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ cán bộ quản lý theo chuẩn hiệu trưởng các trường Tiểu học. Chương 2: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý và công tác phát triển đội ngũ cán bộ quản lý theo chuẩn hiệu trưởng các trường Tiểu học thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Chương 3: Một số biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý theo chuẩn hiệu trưởng các trường Tiểu học thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2014-2020. 6 Chƣơng1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ THEO CHUẨN HIỆU TRƢỞNG CÁC TRƢỜNG TIỂU HỌC 1.
Sơ lƣợc lịch sử nghiên cứu vấn đề Hoạt động quản lý bắt nguồn tự sự phân công, hợp tác lao động. Chính sự phân công, hợp tác lao động giúp cho năng suất và hiệu quả lao động tốt hơn, cao hơn. Tuy nhiên để đạt được điều đó, trong công việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy, điều hành, phối hợp, kiểm tra, chỉnh lý., hay nói cách khác là phải có người đứng đầu và hoạt động của người đứng đầu. Những hoạt động như chỉ huy, điều hành, phối hợp, kiểm tra, chỉnh lý., là hoạt động giúp người thủ trưởng, người đứng đầu kết hợp tổng lực trí tuệ, sức lực của các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng, trong tổ chức nhằm thực hiện đạt mục tiêu đề ra.
Ngày nay trong sự nghiệp đổi mới đất nước, quản lý nói chung, quản lý giáo dục nói riêng là vấn đề luôn được Đảng, Nhà nước và ngành giáo dục quan tâm, chú trọng, đồng thời thu hút rất lớn sự quan tâm của các nhà lãnh đạo, các nhà khoa học và các nhà quản lý. Vấn đề quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong việc " Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài", đặc biệt là trong việc nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo của các nhà trường hiện nay. Trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục cũng như phát triển đội ngũ cán bộ quản lý. Đối với Việt Nam, vấn đề này rất được quan tâm, chú trọng; đã có nhiều công trình khoa học, nhiều đề tài, dự án có giá trị được nghiên cứu, ứng dụng; tiêu biểu như: "Giáo trình khoa học quản lý" của tác giả Phạm Trọng Mạnh (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2011); "Đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục" của tác giả Đặng Quốc Bảo (NXB Giáo dục, Hà Nội năm 2010); "Một số vấn đề giáo dục và khoa học giáo 7 dục" của tác giả Phạm Minh Hạc (NXB giáo dục, Hà Nội năm 1996); "Bản chất của hoạt động quản lý, quản lý giáo dục, thành tựu và xu hướng" của tác giả Nguyễn Gia Quý (NXB giáo dục, Hà Nội 1996).
Vấn đề xây dựng, phát triển đội ngũ CBQL giáo dục nói chung, CBQL trường tiểu học nói riêng được Đảng, Nhà nước hết sức quan tâm, được đề cập ở nhiều nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Nhà nước; được qui định trong Luật Giáo dục, Chiến lược phát triển giáo dục và các nghị định, thông tư, các chương trình, đề án của Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL giáo dục. Nhiều công trình nghiên cứu đã được thực hiện; tiêu biểu như: Công trình nghiên cứu “Đánh giá Hiệu trưởng trường Tiểu học Việt Nam theo hướng chuẩn hóa” của tác giả Trịnh Thị Hồng Hà, đã đề cập và khái quát vai trò của Hiệu trưởng trường Tiểu học trong thực tế. Luận án của Nguyễn Liên Châu (2000), “ Một số đặc điểm giao tiếp của Hiệu trưởng trường Tiểu học” phân tích đặc điểm giao tiếp của Hiệu trưởng trên các mặt: Nhu cầu, mục đích và nhận thức trong giao tiếp. Một số luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục với các đề tài nghiên cứu về vấn đề qui hoạch phát triển đội ngũ CBQL trường học hoặc nâng cao năng lực quản lý trường học của Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng với các nội dung tiếp cận về quản lý các mặt hoạt động trong nhà trường như: quản lý đội ngũ giáo viên, quản lý quá trình dạy học, quản lý cơ sở vật chất – trang thiết bị,… Tuy nhiên, trên địa bàn thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu về phát triển đội ngũ CBQL theo chuẩn hiệu trưởng các trường tiểu học.
Vì thế, việc nghiên cứu đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ CBQL theo chuẩn hiệu trưởng các trường tiểu học thành phố Bắc Giang tỉnh Bắc Giang có ý nghĩa to lớn về mặt lý luận và thực tiễn trong việc đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục tiểu học của địa phương trong điều kiện mới. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Phát triển Theo Từ điển Tiếng Việt, " phát triển" là biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp [26, tr37]. Phát triển là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như phát triển kinh tế, phát triển xã hội, phát triển nguồn nhân lực, phát triển đội ngũ.
Còn theo quan điểm triết học, phát triển là khái niệm biểu hiện sự thay đổi tăng tiến cả về chất, cả về không gian lẫn thời gian của sự vật, hiện tượng và con người trong xã hội. Như vậy, phát triển được hiểu là sự tăng trưởng, là sự chuyển biến theo chiều hướng tích cực, tiến lên. Đội ngũ Có nhiều quan niệm và cách hiểu khác nhau về đội ngũ. Theo từ điển Tiếng Việt, "Đội ngũ" được hiểu là khối đông người được tập hợp và tổ chức thành một lực lượng có quy củ, có cùng chức năng hoặc nghề nghiệp.
Hiện nay từ "đội ngũ" cũng như khái niệm của nó được sử dụng rộng rãi trong các diễn đàn, diễn thuyết hay trong văn bản của các học giả, trong các tổ chức xã hội. Chúng ta dễ ràng bắt gặp các cụm từ như: "Đội ngũ cán bộ, công chức, đội ngũ trí thức, đội ngũ y, bác sỹ." trên các phương tiện thông tin đại chúng, báo chí, văn bản chỉ đạo của Nhà nước. Khái niệm đội ngũ tuy có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng đều có chung một điểm đó là: Một nhóm người được tổ chức và tập hợp thành một lực lượng để thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể cùng hay không cùng nghề nghiệp nhưng đều có chung một mục đích nhất định. Từ các cách hiểu trên, có thể nêu chung: Đội ngũ là một tập thể gồm số đông người, có cùng lý tưởng, cùng mục đích, làm việc theo sự chỉ huy thống nhất, có kế hoạch, gắn bó với nhau về quyền lợi vật chất cũng như tinh thần.
Quản lý Theo Từ điển Tiếng Việt, "quản lý" được định nghĩa là: "Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan". Quản lý là hoạt động có mục đích, được tiến hành bởi một chủ thể quản lý nhằm tác động lên khách thể quản lý để thực hiện các mục tiêu xác định của công tác quản lý. Trong mỗi chu trình quản lý, chủ thể quản lý tiến hành những hoạt động theo chức năng quản lý như xác định mục tiêu, hoạch định các chủ trương, chính sách, kế hoạch, tổ chức chỉ đạo thực hiện, phối hợp, kiểm tra, huy động và sử dụng các nguồn lực cơ bản như tài lực, vật lực, nhân lực.để thực hiện các mục tiêu, mục đích mong muốn trong bối cảnh và thời gian nhất định. Trong cuốn " Lý luận quản lý nhà nước" của tác giả Mai Hữu Khuê, xuất bản năm 2003 có định nghĩa về quản lý như sau: "Quản lý là một phạm trù có liên quan mật thiết với hiệp tác và phân công lao động, nó là một thuộc tính tự nhiên của mọi lao động hiệp tác.
Từ khi xuất hiện những hoạt động quần thể của loài người thì đã xuất hiện sự quản lý. Sự quản lý đã có trong cả xã hội nguyên thuỷ, ở đó con người phải tập hợp với nhau để đấu tranh với thế giới tự nhiên, muốn sinh tồn con người phải tổ chức sản xuất, tổ chức phân phối" [17]. Theo quan điểm chính trị xã hội: "Quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, người tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế.bằng một hệ thống luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng" Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất trong các hoạt động của con người.
Quản lý đúng tức là con 10 người đã nhận thức được quy luật, vận động theo quy luật và sẽ đạt được thành công theo ý muốn. Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích của người quản lý đến tập thể người bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức đặt ra. Vì vậy, nhiệm vụ của quản lý là biến đổi mối quan hệ trên thành những yếu tố tích cực, hạn chế xung đột và tạo nên môi trường thuận lợi để hướng tới mục tiêu. Đó là "bí quyết" làm việc của người quản lý được khám phá trên sự đúc rút kinh nghiệm thực tế.
Những kinh nghiệm thực tế được khái quát hoá thành những nguyên tắc, phương pháp, kỹ năng quản lý cần thiết, đó chính là khoa học – khoa học quản lý. Do đó, ta có thể nói rằng: Quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật. Quản lý gồm hai thành phần: Chủ thể quản lý và khách thể quản lý: - Chủ thể quản lý là người hoặc tổ chức do con người cụ thể lập nên. - Khách thể quản lý có thể là người, tổ chức, vừa có thể là vật cụ thể như: Môi trường, thiên nhiên, đoàn xe., vừa có thể là sự việc như: luật lệ, quy chế, quy định.Cũng có khi khách thể, tổ chức được con người đại diện trở thành chủ thể quản lý cấp dưới thấp hơn.
Giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua lại, tương hỗ nhau. Chủ thể làm nảy sinh các tác động quản lý, còn khách thể thì sản sinh các giá trị vật chất và tinh thần có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu của con người, thoả mãn mục đích của chủ thể quản lý.