CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC 1. Luật giáo dục Luật số 43/2019/QH14 - Luật giáo dục ngày ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định về đối tượng, phạm vi, nguyên tắc, hình thức, tiêu chuẩn, thẩm quyền, trình tự và thủ tục thi đua, khen thưởng [1]. Luật lao động Luật số 45/2019/QH14 - Luật lao động ngày 20 tháng 11 năm 2019 quy định tiêu chuẩn lao động; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động, tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, tổ chức đại diện người sử dụng lao động trong quan hệ lao động và các quan hệ khác liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động; quản lý nhà nước về lao động [2]. Đối tượng áp dụng: Người lao động, người học nghề, người tập nghề và người làm việc không có quan hệ lao động.
Người sử dụng lao động. Người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động [3]. Luật thi đua khen thưởng Luật số 06/2022/QH15 - Luật thi đua khen thưởng ngày 15 tháng 6 năm 2022 quy định về đối tượng, phạm vi, nguyên tắc, hình thức, tiêu chuẩn, thẩm quyền, trình tự và thủ tục thi đua, khen thưởng [4].
Mục tiêu của thi đua, khen thưởng: Mục tiêu của thi đua là nhằm động viên, thu hút, khuyến khích mọi cá nhân, tập thể, hộ gia đình phát huy truyền thống yêu nước, đoàn kết, đổi mới, năng động, sáng tạo vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ, đạt được thành 6 tích tốt nhất trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Mục tiêu của khen thưởng là nhằm khuyến khích, động viên cá nhân, tập thể, hộ gia đình hăng hái thi đua; ghi nhận công lao, thành tích của cá nhân, tập thể, hộ gia đình trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [5]. Quy chế tổ chức, hoạt động trường Tiểu học Thông tư số 40/2021/TT-BGDĐT – Ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của trường Tiểu học, trường Trung học cơ sở, trường Trung học phổ thông và trường Phổ thông có nhiều cấp học loại hình tư thục ngày 30 tháng 12 năm 2021. Ban hành kèm theo Thông tư này Quy chế tổ chức và hoạt động của trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học loại hình tư thục [6].
Nội quy trường Tiểu học Đông Hải 1, quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Đối với cán bộ, GV, công nhân viên Đến trường làm việc đúng giờ. Để xe đúng nơi quy định. Không tiếp phụ huynh trong các giờ lên lớp.
Thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn của GV tiểu học theo Điều lệ trường tiểu học và Luật giáo dục. Tôn trọng đồng nghiệp, thương yêu và đối xử công bằng với học sinh. mọi hành vi, ngôn ngữ ứng xử phải mẫu mực. Trang phục chỉnh tề, giản dị, phù hợp với các hoạt động sư phạm; mặc trang phục vào các ngày lễ theo đúng quy định.
Chủ động phối hợp thường xuyên, chặt chẽ với gia đình và Ban đại diện cha mẹ học sinh. Đối với học sinh Thực hiện tốt 5 điều Bác Hồ dạy và 5 nhiệm vụ của học sinh tiểu học. Đi học đúng giờ, nghỉ học phải xin phép. Có đầy đủ sách vở, đồ dùng học tập.
7 Trang phục gọn gàng, sạch sẽ. Học sinh là đội viên phải đeo khăn quàng đỏ. Giữ vệ sinh cá nhân, vệ sinh trường, lớp sẽ. Có ý thức giữ gìn, bảo vệ của công.
Khi ốm đau đột xuất phải báo cáo với cô giáo để đưa đến phòng y tế của nhà trường điều trị kịp thời. Không ăn quà bánh trong trường, lớp. Không chơi các trò chơi nguy hiểm. Đối với cha mẹ học sinh Kết hợp chặt chẽ với nhà trường và GV phụ trách lớp để giáo dục các em.
Tham dự đầy đủ các buổi họp do Ban đại diện cha mẹ học sinh và nhà trường phối hợp tổ chức. Chấp hành tốt điều lệ của Ban đại diện cha mẹ học sinh. Tôn trọng, không xúc phạm đến học sinh và GV nhà trường. Phối hợp với nhà trường trong việc sửa chữa cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập.
Đối với khách ra vào trường Xuống xe, qua phòng bảo vệ để liên hệ. Để xe đúng nơi quy định. Yêu cầu các thành viên trong nhà trường, cha mẹ học sinh và các quý khách thực hiện nội quy của nhà trường [7]. Cơ sở khoa học 1.
Khái niệm và sự cần thiết của tạo động lực làm việc 1. Khái niệm Tính tới nay, có rất nhiều nhà khoa học và công trình nghiên cứu trên thế giới nghiên cứu chỉ ra định nghĩa về động lực làm việc, cụ thể: Theo Bedeian (1993): động lực là sự cố gắng để đạt được mục tiêu của mỗi cá nhân. 8 Hoặc theo Kraitner (1995), động lực làm việc được hiểu như sau: Động lực là một quá trình tâm lý mà nó định hướng các hành vi cá nhân theo mục đích nhất định. Cũng có quan điểm của Higgin (1994) cho rằng: động lực bên trong của con người xuất phát từ những nhu cầu chưa được thỏa mãn.
Theo giáo trình Quản trị nhân lực: Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức. Động lực cá nhân lả kết quả của rất nhiều nguồn lực hoạt động đồng thời trong con nguời và trong môi trường sống và làm việc của con người [8]. Như vậy, tựu chung lại có thể động lực làm việc là một khái niệm trong kinh tế liên quan tới tâm lý học, nó mô tả sức mạnh, lý do đằng sau hành vi của một cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ hoặc đạt được một mục tiêu nhất định nào đó. Động lực có thể bao gồm các yếu tố như: tiền bạc, mục tiêu cá nhân, lòng đam mê, sự công nhận hoặc cảm giác thành tựu, bao gồm cả các yếu tố nội tại và ngoại tại.
Sự cần thiết của tạo động lực làm việc Công tác tạo động lực làm việc là công tác quan trọng và thiết yếu trong mọi môi trường làm việc vì nó tác động trực tiếp lên các yếu tố như năng suất lao động, sự hài lòng và phát triển của cả các cá nhân lẫn tổ chức. Có thể thống kê các nguyên nhân chính khiến cho việc tạo động lực làm việc trở nên cần thiết với một tổ chức như: Tăng hiệu quả công việc, tăng năng suất lao động: NV có động lực làm việc sẽ hăng hái lao động, làm việc siêng năng hơn, sáng tạo hơn và đạt được kết quả cao hơn. Họ cũng sẽ có khuynh hướng đặt ra và đạt được các mục tiêu cá nhân ngày một cao hơn góp phần đưa năng suất chung của cả tổ chức cao lên. Cải thiện chất lượng công việc một cách hiệu quả: Khi có động lực làm việc, NV sẽ có ý thức chú trọng hơn vào chất lượng công việc và tránh tối 9 đa mọi sự sai sót có thể.
Điều này góp phần tăng chất lượng công việc chung của cả tổ chức một cách hiệu quả. Bảo vệ nguồn nhân lực chất lượng: Tổ chức sẽ tiết kiệm được chi phí tuyển dụng, đào tạo nhân sự mới và duy trì sự ổn định của tổ chức vì những NV có động lực làm việc sẽ cảm thấy hài lòng với công việc và ít có khuynh hướng rời bỏ tổ chức. Tạo ra môi trường làm việc tích cực, khuyến khích sự sáng tạo và đổi mới: Môi trường làm việc đầy động lực làm việc sẽ khiến cho tất cả NV luôn cảm thấy được tôn trọng, hỗ trợ và khích lệ. Điều này tạo ra một môi trường làm việc tích cực, vui vẻ và hợp tác.
Từ đó tạo điều kiện cho các NV sáng tạo, tìm tòi ra nhiều ý tưởng mới trong công việc, tăng khả năng cạnh tranh cho tổ chức. Phát triển cá nhân, kỹ năng, chuyên môn nghề nghiệp: Động lực làm việc thúc đẩy các cá nhân tự trau dồi phát triển kỹ năng, học tập kiến thức mới, nâng cao sự tự tin, khả năng làm việc độc lập, đem lại lợi ích cho cá nhân mỗi người lao động cũng như sự phát triển lâu dài của tổ chức. Thúc đẩy nhanh quá trình đạt mục tiêu của tổ chức: NV có động lực làm việc sẽ giúp tổ chức nhanh chóng đạt được mục tiêu đề ra, đóng góp vào sự phát triển bền vững của tổ chức. Một số học thuyết tạo động lực cho người lao động 1.
Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow (1943) Maslow cho rằng con người có rất nhiều nhu cầu khác nhau mà họ khao khát được thỏa mãn. Maslow chia các nhu cầu đó thành năm loại và sắp xếp theo thứ bậc như sau: Nhu cầu sinh lý, Nhu cầu an toàn, Nhu cầu xã hội, Nhu cầu được tôn trọng, Nhu cầu tự hoàn thiện. Theo học thuyết này, khi mỗi nhu cầu trong số các nhu cầu đó đã được thỏa mãn thì nhu cầu tiếp theo sẽ trở nên quan trọng. Mặc dù không có một nhu cầu nào có thể thỏa mãn hoàn toàn, nhưng khi một nhu cầu được thỏa mãn về cơ bản thì nó sẽ không còn tạo ra động lực nữa.
Vì thể, theo Maslow, để tạo động lực cho người lao động, cấp 10 quản lý cần phải xác định NV đó đang ở mức nhu cầu nào trong hệ thống này để thỏa mãn các nhu cầu ở thứ mức đó. Học thuyết tăng cường tích cực của B. Skinner đã đề xuất học thuyết tăng cường tích cực, trong đó nhấn mạnh rằng hành vi của con người có thể được điều chỉnh và duy trì thông qua việc sử dụng các biện pháp tăng cường tích cực. Theo Skinner, khi một hành vi được theo sau bởi một kết quả tích cực, xác suất lặp lại hành vi đó sẽ tăng lên.
Các biện pháp tăng cường tích cực bao gồm phần thưởng hoặc sự công nhận mà cá nhân nhận được sau khi thực hiện một hành động mong muốn. Học thuyết cân bằng động lực của Stacy Adams (1963) Học thuyết đề cập mọi người lao động trong tổ chức đều mong muốn được đối xử công bằng và có khuynh hướng so sánh giữa mức độ cống hiến và quyền lợi họ nhận được so với mức độ cống hiến và quyền lợi nhận được của người khác.