Chương 1: Cơ sở lý luận về tạo động lực cho cán bộ viên chức. Chương 2: Thực trạng tạo động lực cho cán bộ viên chức tại Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng. Chương 3: Một số giải pháp tạo động lực cho cán bộ viên chức tại Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO CÁN BỘ VIÊN CHỨC 1.
Một số khái niệm và vấn đề có liên quan 1. Khái niệm Động lực là một trong những chủ đề nghiên cứu thường xuyên trong hành vi tổ chức. Một cuộc thăm dò dư luận quần chúng gần đây của viện Gallup (Hoa Kỳ) giải thích nguyên nhân động lực thường xuyên được chọn nghiên cứu là phần lớn người lao động Hoa Kỳ (55%) không nhiệt tình với công việc. Một nghiên cứu khác chỉ ra rằng bản thân người lao động tuyên bố rằng họ đã lãng phí xấp xỉ 2 giờ mỗi ngày, không tính thời gian nghỉ trưa và giờ nghỉ cho phép (phần lớn thời gian để lướt mạng và nói chuyện phiếm với đồng nghiệp).
Rõ ràng, động lực làm việc là một vấn đề đáng quan tâm và được khá nhiều nhà nghiên cứu đề cập từ các phương diện khác nhau.Theo Maier và Lawier (1973), động lực là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân. Higgins (1994) cho rằng động lực là lực đẩy từ bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chưa được thỏa mãn. Từ góc độ tâm lý học, động lực làm việc được hiểu là cái thúc đẩy hành động, gắn liền với việc thỏa mãn những nhu cầu của chủ thể, có khả năng khơi dậy tính tích cực lao động của con người. Từ góc độ quản trị thì “động lực chính là sự khao khát và tự nguyện của cá nhân nhằm phát huy mọi nỗ lực để hướng bản thân để đạt được mục tiêu cá nhân và mục tiêu của tổ chức”(Phạm Thúy Hương & Phạm Thị Bích Ngọc, 2016).
Từ đó, ta có thể hiểu “Động lực làm việc người lao động là những nhân tố kích thích người lao động hoạt động một cách tích cực có chất lượng, hiệu quả, khả năng thích nghi cao, có sáng tạo cao nhất đối với tiềm năng của họ”. Ba thành tố chính trong định nghĩa động lực là cường độ, định hướng và sự bền bỉ. Cường độ mô tả mức độ cố gắng của một người, đây là thành tố mà hầu hết 8 chúng ta đều tập trung vào khi nói về động lực. Tuy nhiên cường độ cao không chắc chắn sẽ dẫn đến kết quả công việc mong muốn nếu những nỗ lực đó không được khai thác theo định hướng mang lại lợi ích cho tổ chức.
Bởi vậy chúng ta cần cân nhắc chất lượng cũng như cường độ nỗ lực. Những nỗ lực hướng tới và phù hợp với mục tiêu của tổ chức là những nỗ lực cần phải có. Nỗ lực cũng cần được xem xét trên phương diện bền bỉ, yếu tố này đánh giá thời gian một người có thể duy trì nỗ lực. Những cá nhân có động lực có thể đảm nhận công việc cho đến khi đạt được mục tiêu.
Bản chất của động lực Nhu cầu là những đòi hỏi, mong ước của con người xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau như: tâm sinh lý, xã hội. Nó xuất phát từ trạng thái tâm lý con người cảm thấy thiếu thốn, không thỏa mãn về cái gì đó, từ đó, thúc đẩy họ có những hành động để đạt được những đòi hỏi, mong ước đó. Nhu cầu là một yếu tố tồn tại vĩnh viễn trong bất kỳ chế độ xã hội nào từ trước đến nay của loài người. Để tồn tại và phát triển, con người cần có những điều kiện nhất định như ăn, mặc, ở, vui chơi, giải trí.
Chính những điều kiện đó tạo ra các nhu cầu và con người tìm mọi cách để thỏa mãn nhu cầu của mình. Khi xã hội phát triển, hệ thống nhu cầu của con người ngày càng phong phú và đa dạng. Có rất nhiều loại nhu cầu khác nhau như: nhu cầu vật chất – nhu cầu tinh thần; nhu cầu thiết yếu – nhu cầu không thiết yếu.Khi nhu cầu này được thỏa mãn, lập tức xuất hiện các nhu cầu khác cao hơn và con người sẽ có những hành động để thỏa mãn các nhu cầu này. Sự thỏa mãn nhu cầu chính là việc nhu cầu đã được thỏa mãn về cơ bản.
Giữa nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu có một khoảng cách, khoảng cách này sẽ tạo động lực thúc đẩy con người hành động. Tuy nhiên, nhu cầu không phải là động lực trực tiếp thôi thúc con người hành động mà là chính lợi ích mà họ nhận được mới là động lực chính thúc đẩy con người. Lợi ích là mức độ thỏa mãn nhu cầu của con người trong một điều kiện nhất 9 định được biểu hiện trước, trong và sau quá trình lao động. Mức độ thỏa mãn nhu cầu càng lớn thì lợi ích càng cao và ngược lại.
Lợi ích chính là tất cả giá trị vật chất và tinh thần và người lao động nhận được từ tổ chức, mà biểu hiện chính là tiền lương, tiền thưởng, các phúc lợi và dịch vụ khác, điều kiện và môi trường làm việc thuận lợi, việc làm ổn định cho người lao động,. từ đó, có thể thỏa mãn những nhu cầu của con người. Nhu cầu và lợi ích có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, không có nhu cầu thì không có lợi ích, lợi ích là hình thức biểu hiện của nhu cầu và nhu cầu chính là nội dung của lợi ích. Tương ứng với nhu cầu vật chất thì có lợi ích vật chất và với nhu cầu tinh thần thì có lợi ích tinh thần.
Những lợi ích vật chất như tiền lương, tiền thưởng, các phúc lợi và dịch vụ.là những biểu hiện đảm bảo nhu cầu tồn tại và phát triển thể con người. Còn những lợi ích tinh thần như điều kiện và môi trường làm việc thuận lợi, việc làm ổn định, được tôn trọng, quan tâm.là những biểu hiện thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý, xã hội của con người. Khi nhu cầu xuất hiện, con người sẽ có hành động để thỏa mãn nhu cầu và kết quả của hành động đó là con người nhìn thấy lợi ích mà họ sẽ có được. Lợi ích – cái mà họ có được- chính là động lực quan trọng thúc đẩy người lao động làm việc.
Lợi ích càng lớn thì động lực thúc đẩy con người hành động càng mạnh và ngược lại lợi ích càng bé thì động lực sẽ yếu đi thậm chí bị triệt tiêu. Do đó, nhu cầu của con người tạo ra động cơ lao động song chính lợi ích của họ mới là động lực trực tiếp thúc đẩy họ làm việc hăng say và có hiệu quả cao. Nhưng chỉ khi có nhu cầu, có sự mong ước về điều gì đó con người mới có ý muốn hành động đạt được nó và đạt được như thế nào, lợi ích ra sao mới tạo động lực thúc đẩy họ hành động một cách có hiệu quả. Tạo động lực a.
Khái niệm Trong lãnh đạo, nhà quản trị phải động viên cấp dưới của mình để họ đem hết khả năng làm việc vói nỗ lực cao nhất để thực hiện mục tiêu của tổ chức, để thúc đẩy nhân viên nhà quản trị phải biết đối xử vói con người. Động viên là sự thúc đẩy người lao động làm việc, tác dụng của thúc đẩy tùy thuộc vào sự khuyến khích (bằng vật chất 10 và tinh thần) mà kích thích nhân viên sử dụng hết khả năng tìm tàng của họ và cố gắng tối đa trong thực hiện công việc Để đạt được kết quả ở mức cao nhất nhà quản trị phải đảm bảo rằng người công nhân luôn ở trong tình trạng được thỏa mãn các nhu cầu riêng cũng như những nhu cầu chung của tổ chức. Nhũng người được động viên là những người đang ở trong trạng thái áp lực và để giải tỏa áp lực này họ cần nồ lực, khi nỗ lực thỏa mãn được nhu cầu của mình thì áp lực sẽ giảm. Trong đó tạo động lực được hiểu là “hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động tới người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong lao động” (Bùi Anh Tuấn &Phạm Thúy Hương, 2009).Tạo động lực, hiểu một cách cụ thể, chính là việc tạo ra sự hấp dẫn trong công việc, của kết quả thực hiện công việc, của tiền lương, tiền thưởng, của điều kiện làm việc, của các mối quan hệ trong công việc…và khi đó người lao động sẽ hăng hái, hưng phấn và làm việc một cách tự nguyện, tích cực và sáng tạo.
Đó cũng chính là những lợi ích mà người lao động nhận được. Khi sự hấp dẫn càng lớn, lợi ích càng lớn, động lực để người lao động làm việc càng cao, người lao động càng tích cực, hăng hái làm việc một cách tốt nhất để đạt được những lợi ích đó. Do vậy, những nhà lãnh đạo nói chung và các người quản lý lao động nói riêng cần phải nắm bắt được các nhu cầu người lao động để đưa ra những lợi ích hợp lý để thỏa mãn nhu cầu của họ. Sự cần thiết của tạo động lực làm việc Tạo động lực mang lại lợi ích cho người lao động, cho tổ chức và gián tiếp mang lại lợi ích cho xã hội như sau: - Đối với người lao động: Làm tăng năng suất lao động cá nhân: Khi có động lực làm việc thì người lao động sẽ thấy yêu thích công việc và làm việc hăng say, kết quả là năng suất lao động cá nhân được nâng cao rõ rệt.
Năng suất tăng lên dẫn tới tiền lương cũng được nâng cao hơn trước và nâng cao thu nhập cho người lao động. 11 Phát huy được tính sáng tạo: Tính sáng tạo thường được phát huy khi con người cảm thấy thoải mái, tự nguyện khi thực hiện một công việc nào đó. Tăng sự gắn bó với công việc và với cơ quan: khi đã cảm thấy yêu thích và cảm nhận được sự thú vị trong công việc thì sẽ hình thành bên trong họ sự gắn bó với tổ chức hiện tại của mình. Thêm một lợi ích nữa đối với người lao động đó là khi công việc được tiến hành thuận lợi thì họ sẽ thấy được công sức mình bỏ ra là có ích và đạt được hiệu quả cao.
Điều đó tạo cho họ cảm thấy có ý nghĩa trong công việc, cảm thấy mình quan trọng và có ích và từ đó không ngừng hoàn thiện bản thân mình hơn nữa. - Đối với tổ chức: Nguồn nhân lực trong tổ chức sẽ được sử dụng hiệu quả nhất và có thể khai thác tối ưu các khả năng của người lao động và nâng cao hiệu quả công việc.