CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. Cơ sở lý luận về tạo việc làm cho người lao động 1. Các khái niệm cơ bản về việc làm và tạo việc làm 1.
Khái niệm về việc làm Lao động và việc làm có mối quan hệ gắn kết với nhau, vì vậy để hiểu rõ khái niệm và bản chất của việc làm, chúng ta phải liên hệ đến phạm trù lao động. Theo Trần Xuân Cầu (2013), Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội: “Lao động là một yếu tố tất yếu không thể thiếu được của con người, nó là hoạt động cần thiết và gắn chặt với lợi ích của con người. Bản thân cá nhân mỗi con người trong nền sản xuất xã hội đều chiếm những vị trí nhất định. Mỗi vị trí mà người lao động chiếm giữ trong hệ thống sản xuất xã hội với tư cách là một sự kết hợp của các yếu tố khác trong quá trình sản xuất được gọi là chỗ làm hay việc làm”.
Theo Phạm Đức Chính (2005), Thị trường lao động cơ sở lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. “Việc làm là hoạt động lao động của con người nhằm mục đích tạo ra thu nhập đối với cá nhân, gia đình hoặc cho toàn xã hội, không bị pháp luật cấm. Như vậy, việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất. Người lao động được coi là có việc làm khi chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã hội.
Nhờ có việc làm mà người lao động mới thực hiện được quá trình lao động tạo ra sản phẩm cho xã hội, cho bản thân”. Hiện nay, việc làm được nghiên cứu qua 3 loại hình: Thứ nhất là thực hiện công việc để nhận được tiền lương, tiền công hoặc hiện vật cho công việc đó. Thứ hai là thực hiện công việc mang lại lợi ích cho bản thân. Trong khi đó, tư liệu sản xuất để thực hiện công việc đó thuộc quyền sở hữu toàn bộ hay một phần hoặc có quyền sử dụng chúng.
Thứ bao là thực hiện công việc gia đình nhưng không có thu về tiền công, tiền lương cho công việc này. Công việc này có thể là hoạt động sản xuất nông nghiệp gia Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 đình hoặc phi nông nghiệp do chính thành viên trong gia đình quản lý, sở hữu. Theo Bộ Luật lao động 2012, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Bộ luật lao động, hiệu lực từ 01/5/2013, NXB giao thông vận tải, Hà Nội: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm. Tùy theo các mục đích nghiên cứu khác nhau mà người ta phân chia việc làm ra thành nhiều loại.
Theo mức độ sử dụng thời gian làm việc, có việc làm chính và việc làm phụ. Việc làm chính là công việc mà người thực hiện giành nhiều thời gian nhất hoặc có thu nhập cao hơn so với công việc khác. Việc làm phụ là công việc mà người thực hiện giành nhiều thời gian nhất sau công việc chính”. Bên cạnh đó, việc làm còn được chia thành 3 loại sau: Một là việc làm toàn thời gian: Làm một công việc đủ 8 giờ một ngày và 5 ngày một tuần.
Hai là việc làm bán thời gian: Làm một công việc không đủ thời gian theo giờ hành chính quy định của Nhà nước 8 tiếng một ngày và 5 ngày một tuần mà không liên tục và chỉ kéo dài khoảng nửa giờ đến 5 giờ một ngày. Ba là việc làm thêm: Làm một công việc không chính thức, không liên tục khi đã có một công việc chính thức và ổn định. Như vậy, ta thấy vấn đề việc làm được đề cập và nghiên cứ dưới rất nhiều khía cạnh và ngày càng được nhìn nhận một cách đúng đắn, khoa học và đầy đủ hơn cùng với sự phát triển của xã hội. Khái niệm lao động có việc làm, lao động không đủ việc làm, thất nghiệp Người có việc làm: Theo Trần Xuân Cầu (2013), Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội: “Đó là những người lao động có công việc mà người lao động nhận được tiền công, đó là những công việc mà người lao động thu lợi nhuận cho bản thân và gia đình, hoạt động đó phải được pháp luật thừa nhận”.
Lao động thiếu việc làm: Theo Trần Xuân Cầu (2013), Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội: “Bao gồm những người có việc làm không ổn định hoặc đang có việc làm (40 giờ trong 5 ngày trở lên) trong tuần lễ tham gia không đầy đủ thời gian làm trong ngày, trong năm và hưởng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 thu nhập rất thấp không đủ sống từ việc làm đó nhưng không thể kiếm được việc làm khác”. Người thất nghiệp: Theo Trần Xuân Cầu (2013), Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội: “Người thất nghiệp là những người, có thể và muốn làm việc, chủ động và tích cực đi tìm kiếm việc làm, nhưng không thể tổ chức được lao động vì không có chỗ làm việc trống hoặc là vì nghề nghiệp không phù hợp”. Ở Mỹ, người lao động là người có khả năng làm việc mong muốn tìm được việc làm, có đăng ký tìm việc làm ở các trung tâm dịch vụ việc làm hoặc liên hệ trực tiếp với người lao động nhưng không có việc làm trong tuần thực hiện điều tra tình trạng thất nghiệp. Ở Liên Bang Đức thì cho rằng, người thất nghiệp là người lao động tạm thời không có quan hệ lao động hoặc chỉ thực hiện các công việc ngắn hạn.
Để quan niệm người thất nghiệp phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam hiện nay, theo Phạm Đức Chính (2005), Thị trường lao động cơ sở lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội: “Người thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, đang ở trong tình trạng không có việc làm và đang đi tìm việc làm, đồng thời sẵn sàng đi làm ngay nếu được chấp nhận”. Với quan niệm này, người thất nghiệp có thể là những công nhân trong các doanh nghiệp, học sinh, sinh viên tốt nghiệp các trường chuyên nghiệp, bồ đội xuất ngũ nhưng chưa có việc làm. Những người trong độ tuổi lao động, hoặc ngoài độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng không có nhu cầu tìm việc làm thì không được coi là người thất nghiệp. Các khái niệm tạo việc làm, giải quyết việc làm * Tạo việc làm Một quốc gia nếu có tỷ lệ thất nghiệp ở mức cao sẽ tác động xấu đến sự phát triển và ổn định về cả mặt kinh tế và xã hội.
Về mặt kinh tế, khi số lượng người lao động bị thất nghiệp lớn, tức là mức thất nghiệp cao, thì số lượng người lao động đó và những tài nguyên liên quan đã bị phí phạm vì không có sự kết hợp để tạo ra của cải xã hội, tạo ra những giá trị kinh tế cần thiết. Như vậy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế bị giảm sút, ảnh hưởng đến thu nhập của dân cư, thu nhập quốc dân. Về Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 mặt xã hội, bộ phận người lao động bị thất nghiệp sẽ làm gia tăng các tệ nạn xã hội, tâm trạng, tinh thần của họ luôn luôn ở trong tình trạng chán nản, buồn bã, căng thẳng, khiến họ có những suy nghĩ tiêu cực thậm chí không lành mạnh, gây ảnh hưởng xấu hoặc nghiêm trọng đến những người xung quanh và xã hội. Thất nghiệp luôn tồn tại một cách khách quan trong nền kinh tế, không thể loại bỏ nhưng có thể hạn chế tỷ lệ của nó.
Vì vậy, trong Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020, Đảng ta đã xác định: “Giải quyết việc làm, sử dụng tối đa nguồn lực lao động xã hội là mục tiêu quan trọng hàng đầu của chiến lược, là một tiêu chuẩn để định hướng cơ cấu kinh tế và lựa chọn công nghệ ở nước ta hiện nay”. Theo Trần Xuân Cầu (2013), Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực, Nhà Xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân: “Tạo việc làm là quá trình tạo điều kiện kinh tế xã hội cần thiết để NLĐ có thể kết hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, nhằm tiến hành quá trình lao động, tạo ra hàng hóa và dịch vụ theo yêu cầu thị trường”. Như vậy, tạo việc làm cho người lao động là đưa người lao động vào làm một công việc với việc sử dụng các tư liệu sản xuất một cách phù hợp để tạo ra hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế. Nói chúng tạo việc làm là tất cả những hoạt động cần thiết để tạo được ra những công việc làm mới để những người lao động chưa có việc làm sẽ có được việc làm hoặc tạo thêm việc làm cho những NLĐ đang thiếu việc làm và giúp NLĐ tự tạo việc làm.
- Về phía NLĐ: NLĐ muốn tìm được công việc phù hợp với bản thân và có lương tốt thì phải tham gia các khóa đào tạo hoặc tự đào tạo bản thân, nâng cao chuyên môn kỹ thuật, năng lực của mình để có những kỹ năng nhất định đáp ứng được yêu cầu của vị trí công việc mình mong muốn. - Về phía người sử dụng lao động: Các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế có nhu cầu tuyển dụng lao động để tiến hành sản xuất kinh doanh. Họ cần thông tin về thị trường, cần vốn, cần sức lao động, cần kinh nghiệm, cần sự quản lý khoa học, sự hiểu biết các chính sách của Nhà nước, các quy luật và xu hướng phát triển kinh tế để có thể vận dụng linh hoạt, tăng quy mô hoạt động, đáp ứng được nhu cầu ngày Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 càng cao của người lao động, tạo động lực cho họ làm việc ổn định. Đồng thời ngày càng tạo ra nhiều vị trí công việc mới, thu hút lao động.