CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT Ở VIỆT NAM 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm chính sách công Theo Vũ Cao Đàm, “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội” [24, tr.11] Cho đến nay, trên thế giới có rất nhiều quan niệm khác nhau về chính sách công. Các nghiên cứu khoa học ở Việt Nam cũng đã có nhiều nghiên cứu về chính sách công.
Trong cuốn sách “Chính sách kinh tế - xã hội”, các tác giả đồng nhất chính sách công với chính sách kinh tế - xã hội và đưa ra định nghĩa: “Chính sách kinh tế - xã hội là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và công cụ Nhà nước sử dụng để tác động lên các đối tượng và khách thể quản lý nhằm giải quyết vấn đề chính sách, thực hiện những mục tiêu nhất định theo định hướng mục tiêu tổng thể của xã hội” [30, tr. Theo từ điển giải thích thuật ngữ hành chính: “Chính sách công là chiến lược sử dụng các nguồn lực để làm dịu bớt những vấn đề của quốc gia hay những mối quan tâm của Nhà nước. Chính sách công cho phép Chính phủ đảm nhiệm vai trò của người cha đối với cuộc sống của nhân dân. Nó tạo thời cơ, giữ gìn hạnh phúc và an toàn cho mọi người; tạo ra an toàn tài chính và bảo vệ an toàn Tổ quốc” [33, tr.
Các nhà khoa học của Viện Chính trị học, Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng: “Chính sách công là chương trình 9 n hành động của Nhà nước nhằm giải quyết các vấn đề cụ thể” [49, tr. Mặc dù các quan niệm trên còn có những điểm khác nhau, nhưng tất cả các ý kiến đều xem xét, nghiên cứu chính sách công với tư cách là sản phẩm có mục đích của nhà nước, chính quyền nhằm tác động đến đời sống của nhân dân. Từ những phân tích trên, có thể hiểu thuật ngữ chính sách công như sau: “Chính sách công là tổng thể chương trình hành động của nhà nước, nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội theo phương thức nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đề ra và đảm bảo cho xã hội phát triển bền vững, ổn định” [30, tr. Khái niệm về cán bộ, công chức; cán bộ chủ chốt 1.
Khái niệm cán bộ, công chức Tại Điều 4, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định (Luật số 22/2008/QH12): “1. Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt 10 n Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Khái niệm cán bộ chủ chốt Theo Vũ Văn Hiền, trong hệ thống chính trị, người đứng đầu của mỗi tổ chức, ở mỗi cấp, mỗi ngành có chức năng giải quyết các mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp nhân dân trong cộng đồng xã hội, trong đó quan trọng nhất là mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội của quần chúng, là hạt nhân trong tập thể lãnh đạo gọi là cán bộ chủ chốt [33, tr. Từ cách tiếp cận trên và từ khái niệm cán bộ, có thể hiểu: Cán bộ chủ chốt là người có chức vụ, quyền hạn, giữ vị trí quan trọng nhất ở một cấp, một ngành, một cơ quan, đơn vị; có trách nhiệm chính khi quyết định những vấn đề quan trọng có ảnh hưởng đến các mặt về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,… được quyền xử lý, giải quyết những công việc thuộc chức trách, nhiệm vụ được giao, đảm bảo đúng quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Khái niệm cán bộ chủ chốt cấp tỉnh Cán bộ chủ chốt cấp tỉnh là người có chức vụ, quyền hạn, có trách nhiệm 11 n quản lý điều hành và quyết định những vấn đề trong phạm vi chức trách, trách nhiệm của địa phương, cơ quan, đơn vị theo phân cấp quản lý cán bộ. Khái niệm về thực hiện chính sách phát triển đội ngũ cán bộ chủ chốt Từ những khái niệm về chính sách công, thực thi chính sách công, về phát triển, về cán bộ, về CBCC, có thể hiểu thực hiện chính sách phát triển đội ngũ CBCC như sau: Chính sách phát triển đội ngũ CBCC là tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Đảng, Nhà nước, các tổ chức trong hệ thống chính trị, nhằm chuyển hóa ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm xây dựng đội ngũ CBCC đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm với nhiệm vụ.
Thể chế quản lý cán bộ, công chức Thể chế quản lý cán bộ, công chức là hệ thống các chế định pháp luật (luật lệ, quy tắc) trong việc xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức nhằm mục đích nâng cao năng lực, phẩm chất đạo đức của cán bộ, công chức trong thực thi công vụ; xây dựng cơ cấu tổ chức và môi trường thúc đẩy sự hợp tác, phối hợp của cán bộ, công chức trong cả hệ thống chính trị nói chung và bộ máy nhà nước nói riêng; xác định rõ trách nhiệm pháp lý và xã hội của cán bộ, công chức cũng như các tổ chức cơ quan quản lý cán bộ, công chức. Đồng thời, thể chế quản lý cán bộ, công chức có vai trò định hướng, giáo dục mọi người trong xã hội và cán bộ, công chức có ý thức hiểu biết cái đúng để chấp hành, nhận rõ cái sai để góp ý sửa chữa và cùng hướng đến mục tiêu xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Ở Việt Nam, thể chế quản lý cán bộ, công chức là một bộ phận của hệ thống thể chế nhà nước, là luật pháp hóa các chủ trương, nghị quyết, chiến lược cán bộ như các quyết định, quy định của Đảng về nhận xét, đánh giá, quy hoạch, đề bạt, bổ nhiệm, bố trí, sử dụng cán bộ và phân cấp quản lý cán 12 n bộ. Đây là nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ; đồng thời, là cơ sở định hướng cho các cơ quan nhà nước xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quản lý đội ngũ cán bộ, công chức.
Pháp lệnh cán bộ, công chức ban hành năm 1998 là văn bản có tính pháp lý cao nhất của Nhà nước ta trong lĩnh vực quản lý đội ngũ cán bộ, công chức. Luật cán bộ, công chức năm 2008, đã quy định rõ hơn về đối tượng điều chỉnh, nguyên tắc trong thực thi công vụ, nguyên tắc quản lý cán bộ, công chức, chính sách đối với người có tài. Vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ chủ chốt Đội ngũ CBCC là lực lượng tham mưu cho Đảng, Nhà nước trong hoạch định chiến lược, kế hoạch, chủ trương, chính sách, bước đi, giải pháp thực hiện CNH, HĐH ở nước ta. Đồng thời, đây là lực lượng lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện các nội dung, nhiệm vụ của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Từ mục đích, đặc điểm của nền kinh tế thị trường, Đảng ta khẳng định trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và trong bối cảnh hội nhập quốc tế, đội ngũ CBCC lại càng có vai trò quan trọng để xây dựng thể chế, cơ chế và tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường và nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước. Đây là đội ngũ tham mưu, đề xuất với Đảng và Nhà nước về dự báo chiến lược, các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của đất nước,. Vai trò của đội ngũ CBCC còn thể hiện trong việc tham mưu, đề xuất các chủ trương, chính sách, pháp luật để thực hiện xã hội hóa các hoạt động sự nghiệp, dịch vụ công, những vấn đề an sinh xã hội; đồng thời giúp cho Đảng, Nhà nước tổ chức thanh tra, kiểm tra, kiểm soát, tạo điều kiện để các hoạt động xã hội hóa sự nghiệp, dịch vụ công phát triển theo đúng mục tiêu, định hướng xã hội chủ nghĩa. Thực hiện chính sách phát triển đội ngũ cán bộ chủ chốt ở nước ta hiện nay 1.
Các bước triển khai thực hiện chính sách phát triển đội ngũ cán bộ chủ chốt 1. Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Để chính sách mang tính khả thi cao, đạt hiệu quả, các cơ quan triển khai thực thi chính sách đều phải xây dựng chương trình, kế hoạch để tổ chức thực hiện.