Chương 1 của Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ quy định tiêu chí xác định DNNVV ở nước ta cho Luan van 15 từng ngành kinh doanh như sau: a. Trong thương mại, dịch vụ Doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có tổng nguồn vốn từ trên 10 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng và số lao động là từ trên 50 người đến 100 người. Doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có tổng nguồn vốn từ 10 tỷ đồng trở xuống và số lao động là từ trên 10 người đến 50 người. Doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có tổng nguồn vốn từ 10 tỷ đồng trở xuống và số lao động là 10 người trở xuống.
Trong công nghiệp và xây dựng Doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có tổng nguồn vốn từ trên 20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng và số lao động là từ trên 200 người đến 300 người. Doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có tổng nguồn vốn từ 20 tỷ đồng trở xuống và số lao động là từ trên 10 người đến 200 người. Doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có tổng nguồn vốn từ 20 tỷ đồng trở xuống và số lao động là 10 người trở xuống. Trong nông lâm nghiệp và thủy sản: Doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có tổng nguồn vốn từ trên 20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng và số lao động là từ trên 200 người đến 300 người.
Doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có tổng nguồn vốn từ 20 tỷ đồng trở xuống và số lao động là từ trên 10 người đến 200 người. Doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có tổng nguồn vốn từ 20 tỷ đồng trở xuống và số lao động là 10 người trở xuống. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam a. Thúc đẩy sự phát triển của thị trường Do lợi thế của quy mô nhỏ là năng động, linh hoạt, sáng tạo trong kinh Luan van 16 doanh cùng với hình thức tổ chức kinh doanh sự kết hợp chuyên môn hóa và đa dạng hóa mềm dẻo, hòa nhịp với những đòi hỏi của nền kinh tế thị trường nên các DNNVV có vai trò lớn góp phần làm năng động nền kinh tế trong cơ chế thị trường.
DNNVV có nhiều khả năng thay đổi mặt hàng, chuyển hướng sản xuất, đổi mới công nghệ. Các DNNVV luôn có sự phối hợp chặt chẽ giữa công việc sản xuất và chiến lược thị trường phù hợp. Trong thời gian qua, các loại hình DN này đa phần lấy mục tiêu phục vụ thị trường trong nước làm chính, đáp ứng nhu cầu trong nước và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực. Tuy nhiên, khi nền kinh tế phát triển, tạo ra nhiều cơ hội kinh doanh hơn, sức mua tăng lên nhu cầu lớn hơn, các DNNVV rất nhạy bén trong việc điều chỉnh cơ cấu, tăng doanh thu.
Điều này rất khó thực hiện ở các DN lớn khi muốn đa dạng hóa mặt hàng sản xuất. Đối với các DN lớn, DNNVV cũng có thể làm đại lý, vệ tinh tiêu thụ hàng hóa hoặc cung cấp các vật tư đầu vào với giá rẻ hơn, do đó góp phần hạ giá thành, nâng cao hiệu quả sản xuất cho DN lớn. Góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế DNNVV góp phần quan trọng vào sự gia tăng thu nhập quốc dân của các nước trên thế giới, bình quân chiếm khoảng 50% GDP ở mỗi nước. Riêng ở Việt Nam, mỗi năm các DNNVV đóng góp khoảng 25% GDP của cả nước.
Các DN này có nhiều thuận lợi trong việc khai thác những tiềm năng phong phú trong dân, từ trí tuệ, tay nghề tinh xảo, vốn liếng, các bí quyết nghề nghiệp, nhất là các nghệ nhân, các quan hệ huyết thống, ngành nghề truyền thống… Nhiều sản phẩm thủ công mỹ nghệ đặc trưng của từng địa phương đã nổi tiếng trong cả nước, một số đã được xuất khẩu được nước ngoài đánh giá cao. Nhiều ngành nghề truyền thống đã được nối tiếp trong từng hộ gia đình, từng dòng họ, hình thành tập trung trong các làng nghề, phát huy truyền thống dòng họ, làng xã đặc trưng của nông thôn nước ta. Luan van 17 Để phát triển DNNVV trong các nghề truyền thống một cách lâu dài, cần thiết tôn vinh và chăm lo đời sống của các nghệ nhân, phát huy khả năng của các nghệ nhân trong việc truyền nghề cho thế hệ nối tiếp. Đặc biệt đối với khu vực nông thôn, sự phát triển của các DNNVV sẽ thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm cho công nghiệp phát triển mạnh, đồng thời thúc đẩy các ngành thương mại, dịch vụ.
Sự phát triển của DNNVV ở thành thị cũng góp phần làm tăng tỷ trọng trong khu vực công nghiệp, dịch vụ và thu hẹp dần tỷ trọng khu vực nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế quốc dân. Các DNNVV còn đóng vai trò quan trọng trong việc làm thay đổi và đa dạng hóa cơ cấu công nghiệp. Tạo ra nhiều việc làm cho người lao động Phần lớn các nước trên thế giới, số lượng DNNVV chiếm khoảng 90% tổng số doanh nghiệp. Tốc độ gia tăng các DNNVV nhanh hơn số lượng các DN lớn.
Các DNNVV hoạt động phổ biến trong tất cả các ngành công nghiệp, dịch vụ từ công nghiệp thủ công truyền thống đến các ngành công nghiệp kỹ thuật cao. DNNVV góp phần quan trọng tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho người lao động Đây là một thế mạnh rõ rệt của các DNNVV và là nguyên nhân chủ yếu khiến chúng ta phải đặc biệt chú trọng phát triển các loại hình DN này. Ưu điểm của các DNNVV trong việc giải quyết công ăn việc làm cho người lao động là: các DN này có số lượng lớn, phân bổ rộng rãi từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi đến miền ngược nên mặc dù số lao động làm việc trong một DNNVV không nhiều nhưng theo quy luật số đông, với số lượng rất lớn DNNVV trong nền kinh tế đã tạo ra phần lớn việc làm cho xã hội. Mặt khác, các DN loại này mang tính tư hữu cao, dễ dàng đa dạng hóa sản phẩm, kể cả các mặt hàng mà các DN lớn không SX.
Sự lớn mạnh của các DNNVV đã làm tăng thu nhập của công nhân và giảm tỷ lệ thất nghiệp của mỗi địa Luan van 18 phương nói riêng và toàn lãnh thổ nói chung. DNNVV không chỉ trực tiếp tạo việc làm cho số lao động làm việc thường xuyên ở các DN, mà còn tạo điều kiện để lao động ngoài DN có được việc làm thông qua các hoạt động cung ứng đầu vào, tiếp nhận đầu ra và phục vụ sản xuất - kinh doanh. Xét trên góc độ giải quyết việc làm thì DNNVV luôn đóng vai trò quan trọng hơn các DN lớn, đặc biệt trong thời kỳ suy thoái kinh tế. Lịch sử phát triển kinh tế của các nước công nghiệp phát triển cũng như ở Việt Nam trong thời kỳ đầu đổi mới đã cho thấy rằng: khi nền kinh tế suy thoái, các DN lớn phải giảm lao động để giảm chi phí đến mức có thể tồn tại được vì cầu của thị trường thấp hơn cung.
Nhưng đối với các DNNVV do đặc tính linh hoạt, uyển chuyển dễ thích ứng với thay đổi của thị trường nên nó vẫn có thể hoạt động được. Do đó, các DNNVV không những không giảm lao động mà còn có thể thu hút thêm lao động. Chính vì vậy, Hội đồng DN nhỏ thế giới đã cho rằng: DNNVV là liều thuốc cuối cùng chữa trị bệnh thất nghiệp khi nền kinh tế suy thoái. Góp phần sử dụng có hiệu quả nguồn lực địa phương Với ưu điểm tính chất nhỏ lẻ, dễ phân tán đi sâu vào các ngõ ngách và yêu cầu số lượng vốn ban đầu không nhiều, cho nên các DNNVV có vai trò và tác dụng rất lớn trong việc thu hút các nguồn vốn nhỏ nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư đầu tư vào sản xuất kinh doanh.
Mặt khác, trong quá trình hoạt động, các DNNVV được coi là phương tiện có hiệu quả trong việc huy động, sử dụng các khoản nhàn rỗi trong dân cư và biến nó thành các khoản vốn đầu tư. Muốn phát triển sản xuất, trước hết phải có vốn. Ở các nước đang phát triển, ngoài nguồn nhân lực là yếu tố dư thừa, các yếu tố khác như vốn đầu tư, kỹ thuật, thị trường đều rất hạn hẹp, vì vậy đã gây trở ngại lớn cho quá trình phát triển. Sự phát triển có hiệu quả của các DNNVV đã dẫn đến quá trình Luan van 19 tích lũy của cải không ngừng của nhân dân.
Trước đây, tiết kiệm của dân là không đủ, nhưng trong những năm gần đây, không những tiết kiệm của dân chúng đủ để cung ứng, mà còn vượt mức đầu tư. Nguồn vốn quay vòng nhanh của các DNNVV không những đã nâng cao tích lũy tài sản trong nước, mà nguồn ngoại hối tích lũy do các DNNVV xuất khẩu hàng hóa cũng tăng đều qua các năm. Với quy mô nhỏ và vừa, lại được thành lập phân tán ở hầu khắp các địa phương, các khu vực nên DNNVV có khả năng tận dụng các tiềm năng về lao động, về nguyên vật liệu với trữ lượng hạn chế, không đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất quy mô lớn nhưng sẵn có ở địa phương, sử dụng sản phẩm phụ hoặc phế liệu, phế phẩm của các DN lớn. Thúc đẩy quá trình cạnh tranh trong nền kinh tế DNNVV chiếm một tỷ trọng lớn và đóng vai trò quan trọng trong việc tập trung lực lượng kinh tế, lực lượng lao động.
Sự phát triển không ngừng của các DNNVV góp phần phân phối theo chiều hướng tương đối công bằng, mặt khác huy động được nguồn sức lao động lớn trong xã hội vào hoạt động sản xuất theo quy trình phân công lao động xã hội. Tự do kinh doanh là con đường tốt nhất để phát huy tiềm lực. Một quốc gia muốn tạo nên các DNNVV đều phải có môi trường tự do cạnh tranh. Các DN lớn thường cần những thị trường lớn, đòi hỏi phải có sự bảo hộ của Chính phủ và phải có sự độc quyền.
Còn ở DNNVV, tình trạng độc quyền không xảy ra, họ sẵn sàng chấp nhận tự do kinh doanh. So với các xí nghiệp lớn, các DNNVV có tính tự chủ cao, không ỷ lại vào sự giúp đỡ của Nhà nước, sẵn sàng khai thác các cơ hội để phát triển không ngại rủi ro. Trước những biến động về môi trường, kinh tế, xã hội thường xuyên xảy ra, các DNNVV sẽ có khả năng ứng biến nhanh nhạy, thay đổi hoàn cảnh, tự điều chỉnh tổ chức sản xuất, mang những thiết bị có ưu thế và dùng hình thức Luan van 20 đầu tư dời đến nơi khác để tiếp tục sản xuất và phát triển.