Mở đầu Phần 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Phần 3. Phương pháp nghiên cứu Phần 4. Kết quả nghiên cứu Phần 5.
Kết luận và kiến nghị 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2. Một số khái niệm liên quan 2. Phát triển Có nhiều quan điểm khác nhau về phát triển.
Theo quan điểm siêu hình: Phát triển chỉ là sự tăng, giảm thuần túy về lượng, không có sự thay đổi về chất của sự vật, đồng thời phát triển là quá trình tiến lên liên tục, không trải qua những bước quanh co phức tạp. Phép biện chứng duy vật cho rằng: Phát triển là sự vận động theo hướng đi lên, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện của sự vật (Ngô Thắng Lợi, 2013). Trong kinh tế, khái niệm phát triển còn bao hàm cả sự tăng trưởng. Theo đó, phát triển kinh tế là quá trình thay đổi theo hướng tiến bộ về mọi mặt kinh tế- xã hội của một quốc gia trong bối cảnh nền kinh tế đang tãng trýởng.
Tãng trýởng kinh tế là điều kiện cần để phát triển kinh tế. ở những nýớc đang phát triển, đặc biệt là những nýớc đang phát triển có mức thu nhập bình quân đầu người thấp, nếu không đạt được mức tăng trưởng tương đối cao và liên tục trong nhiều năm, thì khó có điều kiện kinh tế để cải thiện mọi mặt của đời sống kinh tế- xã hội. Tuy nhiên tăng trưởng kinh tế chỉ là điều kiện cần, không phải là điều kiện đủ để phát triển kinh tế. Tăng trưởng kinh tế có thể được thực hiện bởi những phương thức khác nhau và do đó có thể dẫn đến những kết quả khác nhau.
Nếu phương thức tăng trưởng kinh tế không gắn với sự thúc đẩy cơ cấu kinh tế xã hội theo hướng tiến bộ, không làm gia tăng, mà thậm chí còn làm xói mòn năng lực nội sinh của nền kinh tế, sẽ không thể tạo ra sự phát triển kinh tế. Nếu phương thức tăng trương kinh tế chỉ đem lại lợi ích kinh tế cho nhóm dân cư này, cho vùng này, mà không hoặc đem lại lợi ích không đáng kể cho nhóm dân cư khác, vùng khác thì tăng trưởng kinh tế như vậy sẽ khoét sâu vào bất bình đẳng xã hội. Những phương thức tăng trưởng như vậy, rốt cục, cũng chỉ là kết quả ngắn hạn, không những không thúc đẩy được phát triển, mà bản thân nó cũng khó có thể tồn tại được lâu dài. Doanh nghiệp Có nhiều cách hiểu khác nhau về doanh nghiệp nếu đứng trên những góc độ khác nhau của các khoa học hay hướng tiếp cận.
Theo từ điển tiếng Pháp thì doanh 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiệp (entreprendre) có nghĩa là “đảm nhận” hay “hoạt động”, doanh nghiệp theo ý nghĩa này là những người chấp nhận rủi ro để tiến hành kinh doanh. Trong những giai đoạn khác nhau của lịch sử, doanh nghiệp được định nghĩa khác nhau nhưng đều có chung các đặc điểm chủ yếu bao gồm: + Doanh nghiệp là một chủ thể kinh tế; + Hoạt động chủ yếu là sản xuất, kinh doanh, tạo ra của cải vật chất hoặc giá trị dựa trên những nguồn lực của doanh nghiệp; + Sản phẩm của doanh nghiệp nhằm thỏa măn nhu cầu của xă hội, mục tiêu của doanh nghiệp là lợi nhuận; + Hoạt động của doanh nghiệp đa dạng theo sự phát triển của nhận thức và tiến bộ xã hội. Có định nghĩa khác cho rằng: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản và trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo những quy định của pháp luận hiện hành nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh. Theo Khoản 7, điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 doanh nghiệp được định nghĩa như sau: Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh (Quốc hội, 2014).
Từ những quan điểm trên, theo tác giả: Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được đăng ký thành lập theo những quy định của pháp luật hiện hành nhằm thực hiện hoạt động kinh doanh. Doanh nghiệp có tên riêng, có tài sản và có trụ sở giao dịch cụ thể. Doanh nghiệp nhỏ và vừa Có nhiều cách hiểu khác nhau ở các quốc gia về doanh nghiệp nhỏ và vừa, các tiêu thức xác định cũng khác nhau. Ở Việt Nam, doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc có số lao động hàng năm không quá 300 lao động.
Theo Khoản 1 điều 3 Nghị định Số: 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2009: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn hoặc số lao động bình quân năm, cụ thể như sau: 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam Quy mô DN siêu Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa nhỏ Số lao động Tổng nguồn Số lao Tổng nguồn vốn Số lao Khu vực vốn động động I. Nông, lâm 10 người trở 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên nghiệp và thủy xuống trở xuống người đến đồng đến 100 tỷ 200 sản 200 người đồng người đến 300 người II. Công nghiệp 10 người trở 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên và xây dựng xuống trở xuống người đến đồng đến 100 tỷ 200 200 người đồng người đến 300 người III.
Thương mại 10 người trở 10 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên và dịch vụ xuống trở xuống người đến đồng đến 50 tỷ 50 người 50 người đồng đến 100 người Nguồn: Chính phủ (2009) Phát triển DNNVV là đứng trên góc độ vĩ mô đó là sự tăng lên số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa, sự thay đổi cơ cấu loại hình doanh nghiệp, sự thay đổi về quy mô và hình thức sở hữu, phương thức hoạt động. Đứng trên góc độ của doanh nghiệp, phát triển DNNVV là sự thay đổi các nguồn lực của doanh nghiệp như đất đai, lao động, vốn, công nghệ; sự thay đổi cách thức sản xuất kinh doanh và sự thay đổi kết quả và hiệu quả SXKD của doanh nghiệp (Trần Ngọc Nẫm, 2011). Khái quát lại, theo tác giả: Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ là hoạt động làm tăng số lượng doanh nghiệp cũng như thay đổi cơ bản hình thức sở hữu và tổ chức hoạt động nhằm sử dụng những nguồn lực của doanh nghiệp một các có hiệu quả nhất trong quá trình sản xuất kinh doanh. Đặc điểm, mục tiêu và ý nghĩa của phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa 2.
Đặc điểm của phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh nghiệp vừa và nhỏ thường tập trung ở nhiều khu vực chế biến và dịch vụ, tức là gần với người tiêu dùng hơn. Trong đó cụ thể là: Doanh nghiệp vừa và 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhỏ là vệ tinh, chế biến bộ phận chi tiết cho các doanh nghiệp lớn với tư cách là tham gia vào các sản phẩm đầu tư. Doanh nghiệp vừa và nhỏ thực hiện các dịch vụ đa dạng và phong phú trong nền kinh tế như các dịch vụ trong quá trình phân phối và thương mại hoá, dịch vụ sinh hoạt và giải trí, dịch vụ tư vấn và hỗ trợ. Trực tiếp tham gia chế biến các sản phẩm cho người tiêu dùng cuối cùng với tư cách là nhà sản xuất toàn bộ (Phạm Việt Dũng, 2017).
Nhìn chung các doanh nghiệp vừa và nhỏ bị hạn chế bởi nguồn vốn, tài nguyên, đất đai và công nghệ. Sự hữu hạn về nguồn lực này là do tôn chỉ và nguồn gốc hình thành doanh nghiệp. Mặt khác còn do sự hạn hẹp trong các quan hệ với thị trường tài chính – tiền tệ, quá trình tự tích luỹ thường đóng vai trò quyết định của từng doanh nghiệp vừa và nhỏ (Thu Hương, 2014). Xuất phát từ nguồn gốc hình thành, tính chất, quy mô.
các quản trị gia doanh nghiệp vừa và nhỏ thường nắm bắt, bao quát và quán xuyến hầu hết các mặt của hoạt động kinh doanh. Thông thường họ được coi là nhà quản trị doanh nghiệp hơn là nhà quản lý chuyên sâu. Chính vì vậy mà nhiều kỹ năng, nghiệp vụ quản lý trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn rất thấp so với yêu cầu. Do các đặc trưng kể trên nên các doanh nghiệp vừa và nhỏ bị thụ động nhiều hơn ở thị trường.
Cơ hội “đánh thức”, “dẫn dắt” thị trường của họ rất nhỏ. Nguy cơ “bị bỏ rơi”, phó mặc được minh chứng bằng con số doanh nghiệp vừa và nhỏ bị phá sản ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Chẳng hạn ở Mỹ, bìng quân mỗi ngày có tới 100 doanh nghiệp vừa và nhỏ phá sản (đương nhiên lại có số doanh nghiệp tương ứng phù hợp các doanh nghiệp vừa và nhỏ mới xuất hiện), nói cách khác các doanh nghiệp vừa và nhỏ có “tuổi thọ” trung bình thấp. Mục tiêu phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Các doanh nghiệp NVV là một tác nhân quan trọng của nền kinh tế, tham gia ở hầu hết các hoạt động sản xuất kinh doanh và tạo ra các sản phẩm dịch vụ đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Nhà nước đã có nhiều chính sách hỗ trợ sự phát triển của các doanh nghiệp NVV cả về tăng số lượng DN và nâng cao chất lượng hoạt động của các DNNVV. Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa vì một số mục tiêu, cụ thể là: Nâng cao số lượng doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh. Thực chất của hoạt động này là phát triển DNNVV theo chiều rộng tức là nâng cao số lượng các DN tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường. Số lượng DN tăng theo quy mô dân số, sự phát triển của kinh tế xã hội và các yếu tố khác liên quan 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đến mọi mặt của xã hội.
Số DN tăng nhằm mục tiêu đáp ứng tốt nhất nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ của người dân (Thu Hương, 2014). Tạo điều kiện thu hút lao động, phát triển kinh tế. Với số lượng đông đảo, ngành nghề sản xuất kinh doanh đa lĩnh vực, không cần quá nhiều mặt bằng để tổ chức sản xuất kinh doanh và có mặt ở tất cả các khu vực dân cư nên các DNNVV có điều kiện sử dụng lao động hiện có của địa phương với số lượng và chất lượng tùy thuộc vào yêu cầu cụ thể của từng doanh nghiệp.