MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Theo hiệp hội doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam, tốc độ phát triển của ngành Logistics tại Việt Nam những năm gần đây đạt khoảng 14-16%, có quy mô khoảng 40-42 tỉ usd/năm [5]. Dựa vào chuỗi giá trị của Logistics tại Việt Nam, có thể thấy các hoạt động trên tập trung vào giao nhận, vận tải nội địa, khai thác cảng biển và cảng hàng không, lưu kho bãi, quản lý hàng hóa và vận tải quốc tế. Và TMĐT đang là xu thế chủ đạo của nền thương mại toàn cầu.
Điều này mở ra cơ hội lớn cho dịch vụ Logistics, đặc biệt là E- logistics. Vì TMĐT và dịch vụ Logistics liên kết với nhau sẽ giúp thông suốt quy trình xuất khẩu, tiết kiệm chi phí, thời gian và nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp. Một số chuyên gia cho rằng, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ Logistics Việt Nam chủ yếu quy mô vừa và nhỏ, tính chuyên nghiệp chưa cao, đặc biệt là chưa liên kết chặt chẽ để phục vụ khách hàng, chỉ đáp ứng được các dịch vụ giao nhận, cho thuê kho bãi, làm thủ tục hải quan, gom hàng lẻ, chưa tham gia điều hành cả chuỗi Logistics như các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Các dịch vụ hỗ trợ E- logistics còn thiếu, chưa áp dụng được nhiều yếu tố công nghệ.[5] Từ những thuận lợi và khó khăn hiện nay đã và đang ảnh hưởng tới ngành Logistics Việt Nam thì thực tế cho thấy các công ty Logistics đã sẵn sàng áp dụng E- logistics và chấp nhận những thách thức mà nền công nghiệp 4.
Đó chính là lý do nhóm chọn đề tài “Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp ứng dụng Thương mại điện tử trong doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ Logistics vừa và nhỏ”. Đề tài góp phần tháo gỡ những vấn đề còn tồn tại trong việc phát triển thương mại điện tử, nhân tố tác động đến sự phát triển E-logistics trong các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ Logistics hiện nay để đề xuất các giải pháp, chính sách thúc đẩy sự phát triển E-logistics trong ngành Logistics. Mục tiêu nghiên cứu 2.1 Mục tiêu tổng quát Trên cơ sở tổng quan cơ sở lí luận về TMĐT, E-logistics trong doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ Logistics. Nhóm tác giả khảo sát thực trạng và phân tích các nhân 8 tố tác động đến khả năng áp dụng E-logistics trong doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ Logistics.
Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp có tính khả thi nhằm phát triển E- logistics trong các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ Logistics vừa và nhỏ, góp phần đưa TMĐT trở thành hoạt động phổ biến, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ Logistics vừa và nhỏ tại Việt Nam , thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.2 Mục tiêu cụ thể - Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về Thương mại điện tử, E-logistics trong doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ Logistics. - Phân tích thực trạng ứng dụng E-logistics trong các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ Logistics vừa và nhỏ tại Việt Nam. - Đánh giá các nhân tố tác động đến việc ứng dụng E-logistics trong các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ Logistics vừa và nhỏ tại Việt Nam. - Đề xuất và kiến nghị các giải pháp nhằm đẩy mạnh việc phát triển E-logistics trong các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ Logistics vừa và nhỏ tại Việt Nam.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3.1 Đối tượng nghiên cứu - Cơ sở lí luận về TMĐT, E- logistics trong doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ Logistics - Thực trạng áp dụng E-logistics trong doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ Logistics vừa và nhỏ tại Việt Nam.2 Phạm vi nghiên cứu Phạm vi về nội dung: Trên cơ sở lý thuyết về E-logistics trong doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ Logistics, thực trạng áp dụng E-logistics của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ Logistics vừa và nhỏ tại Việt Nam để phân tích, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ ứng dụng E-logistics của các doanh nghiệp trong phạm vi nghiên cứu. Phạm vi về không gian: nghiên cứu phát triển E-logistics trong các doanh nghiệp dịch vụ Logistics vừa và nhỏ tại Việt Nam. 9 Phạm vi về thời gian: các kết quả và nghiên cứu từ năm 2016-2018 và giải pháp định hướng đến năm 2020, tầm nhìn 2030. Phƣơng pháp nghiên cứu - Phương pháp định tính - Phương pháp phân tích 10 CHƢƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1.
Tổng quan về Thƣơng mại điện tử 1.1 Khái niệm Thương mại điện tử là hình thức mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua mạng máy tính toàn cầu. TMĐT theo nghĩa rộng được định nghĩa trong luật mẫu về TMĐT của ủy ban liên hợp quốc về luật thương mại quốc tế (Uncitral): “Thuật ngữ Thương mại cần được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ mang tính chất thương mại dù có hay không có hợp đồng. Các quan hệ mang tính thương mại bao gồm các giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch nào về thương mại nào về cun g cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thỏa thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại, ủy thác hoa hồng; cho thuê dài hạn; xây dựng các công trình; tư vấn; kỹ thuật công trình; đầu tư; cấp vốn; ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc tô nhượng; liên doanh các hình thức khác về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ.” Như vậy, có thể thấy rằng phạm vi của TMĐT rất rộng, bao quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động kinh tế, việc mua bán hàng hóa và dịch vụ chỉ là một trong hàng ngàn lĩnh vực áp dụng của TMĐT. Theo nghĩa hẹp TMĐT chỉ gồm các hoạt động thương mại được tiến hành trên mạng máy tính mở như Internet.
Trên thực tế, chính các hoạt động thương mại thông qua mạng Internet đã làm phát sinh thuật ngữ TMĐT. TMĐT gồm các hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ qua phương tiện điện tử, giao nhận các nội dung kỹ thuật số trên mạng, chuyển tiền điện tử, mua bán cổ phiếu điện tử, vận đơn điện tử, đấu giá thương mại, hợp tác thiết kế, tài nguyên mạng, mua sắm công cộng, tiếp thị trực tuyến tới người tiêu dùng và các dịch vụ sau bán hàng. TMĐT được thực hiện đối với cả thương mại hàng hóa (ví dụ như hàng tiêu dùng, các thiết bị y tế chuyên dụng) và thương mại dịch vụ (ví dụ như dịch vụ cung cấp thông tin, dịch vụ pháp lý, tài chính); các hoạt động truyền thống (như chăm sóc 11 sức khỏe, giáo dục ) và các hoạt động mới (ví dụ như siêu thị ảo). TMĐT đang trở thành một cuộc cách mạng làm thay đổi cách thức mua sắm của con người 1.2 Các đặc trưng của Thương mại điện tử - Các bên tiến hành giao dịch không tiếp xúc trực tiếp với nhau và không đòi hỏi phải biết nhau từ trước TMĐT cho phép mọi người cùng tham gia từ các vùng xa xôi hẻo lánh đến các khu vực đô thị lớn, tạo điều kiện cho tất cả mọi người ở khắp mọi nơi đều có cơ hội ngang nhau tham gia vào thị trường giao dịch toàn cầu và không đòi hỏi nhất thiết phải có mối quen biết với nhau.
- TMĐT trực tiếp tác động tới môi trường cạnh tranh toàn cầu TMĐT càng phát triển, thì máy tính cá nhân trở thành cửa sổ cho doanh nghiệp hướng ra thị trường trên khắp thế giới. Với TMĐT, một doanh nhân dù mới thành lập đã có thể kinh doanh ở Nhật Bản, Đức và Chilê ., mà không hề phải bước ra khỏi nhà, một công việc trước kia phải mất nhiều năm. - Trong hoạt động giao dịch TMĐT đều có sự tham gia của ít nhất ba chủ thể, trong đó có một bên không thể thiếu được đó là người cung cấp dịch vụ mạng, các cơ quan chứng thực Trong TMĐT, ngoài các chủ thể tham gia quan hệ giao dịch giống như giao dịch thương mại truyền thống đã xuất hiện một bên thứ ba đó là nhà cung cấp dịch vụ mạng, các cơ quan chứng thực… là những người tạo môi trường cho các giao dịch TMĐT. Nhà cung cấp dịch vụ mạng và cơ quan chứng thực có nhiệm vụ chuyển đi, lưu giữ các thông tin giữa các bên tham gia giao dịch TMĐT, đồng thời họ cũng xác nhận độ tin cậy của các thông tin trong giao dịch TMĐT.
- Trong TMĐT thì mạng lưới thông tin chính là thị trường Thông qua TMĐT, nhiều loại hình kinh doanh mới được hình thành. Ví dụ: các dịch vụ gia tăng giá trị trên mạng máy tính hình thành nên các nhà trung gian ảo là các dịch vụ môi giới cho giới kinh doanh và tiêu dùng; các siêu thị ảo được hình thành để cung cấp hàng hóa và dịch vụ trên mạng máy tính. Phân loại các loại hình Thƣơng mại điện tử 2.1 Loại hình TMĐT B2B ( Business To Business ) Loại hình TMĐT B2B được định nghĩa đơn giản là TMĐT giữa các công ty. Đây là loại hình TMĐT gắn với mối quan hệ giữa các công ty với nhau.
Khoảng 80% TMĐT theo loại hình này và phần lớn các chuyên gia dự đoán rằng loại hình TMĐT B2B sẽ tiếp tục phát triển nhanh hơn loại hình TMĐT B2C. Thành phần của B2B chủ yếu là hạ tầng ảo và thị trường ảo - Hạ tầng ảo là cấu trúc của B2B chủ yếu bao gồm những vấn đề sau: + Hậu cần - vận tải, nhà kho và phân phối. + Cung cấp các dịch vụ ứng dụng - tiến hành, máy chủ và quản lý phần mềm trọn gói từ một trung tâm hỗ trợ (ví dụ Oracle và Linkshare). + Các nguồn chức năng từ bên ngoài trong chu trình TMĐT như máy chủ trang web, bảo mật và giải pháp chăm sóc khách hàng.
+ Các phần mềm giải pháp đấu giá cho việc điều hành và duy trì các hình thức đấu giá trên Internet. + Phần mềm quản lý nội dung cho việc hỗ trợ quản lý và đưa ra nội dung trang web cho phép thương mại dựa trên web. Phần lớn các ứng dụng B2B là trong lĩnh vực quản lý cung ứng (đặc biệt chu trình đặt hàng mua hàng), quản lý kho hàng (chu trình quản lý đặt hàng gửi hàng-vận đơn), quản lý phân phối (đặc biệt trong việc chuyển gia các chứng từ gửi hàng) và quản lý thanh toán (ví dụ hệ thống thanh toán điện tử hay EPS) - Thị trường mạng được định nghĩa đơn giản là những trang web nơi mà người mua người bán trao đổi qua lại với nhau và thực hiện giao dịch.