CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan nghiên cứu Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp vẫn luôn là vấn đề được các nhà quản trị tài chính quan tâm hàng đầu. Vì vậy đã có nhiều luận văn, luận án, các bài nghiên cứu về vấn đề này. Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước như sau: 1.1 Nghiên cứu nước ngoài Jame Ibe (2016), tác giả đã chỉ ra việc quản lý tài sản ngắn hạn có hiệu quả cần xây dựng chính sách vốn lưu động tối ưu và quản lý định kì dòng tiền mặt, hàng tồn kho và các khoản phải thu. Điều quan trọng đối với việc quản lý vốn lưu động của công ty hiệu quả là hiểu rõ về chu kỳ chuyển đổi tiền mặt của công ty đó.
Tác giả cũng đưa ra một số biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn như cách tốt nhất để tăng lượng tiền mặt là đẩy nhanh việc tiếp nhận các khoản thanh toán bằng cách giảm độ tuổi các khoản phải thu kết hợp với sử dụng hợp lý các biện pháp khuyến khích và xử phạt. Amarjit Gill, Nahum Biger, Neil Mathur (2010), các tác giả nghiên cứu mối quan hệ giữa quản lý vốn lưu động và lợi nhuận. Công trình nghiên cứu 88 công ty Mỹ được niêm yết trên sàn chứng khoán New York trong khoảng thời gian 2 năm (2005 – 2007). Từ nghiên cứu, các tác giả đưa ra kết luận có thể tạo ra lợi nhuận cho các công ty bằng cách rút ngắn chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và quản lý các khoản phải thu ở mức hợp lý.
Onyango (2014) điều tra các hoạt động quản lý TSNH của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Kenya, cụ thể các doanh nghiệp được chọn ở Nairobi. Tác giả đã chỉ ra rằng hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ không có sự quan tâm hoặc không hiểu đúng về giá trị cốt lõi của tài sản, thiếu các chỉ tiêu trong quản trị tài sản ngắn hạn nên còn nhiều thiếu sót trong quản trị TSNH của doanh nghiệp. Iluta Arbidane, Elvira Zelgalve (2012) các tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu tỷ trọng tài sản lưu động trong cơ cấu tổng tài sản, hiệu quả sử dụng tài sản lưu 5 động và các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu tỷ trọng tài sản lưu động của các doanh nghiệp tại Latvia. Tác giả chỉ ra được rằng tỷ trọng tài sản lưu động chịu ảnh hưởng lớn từ tình hình kinh tế của Latvia.
Khi các chỉ số kinh tế và tình hình kinh tế của Latvia được cải thiện, tỷ trọng tài sản lưu động trong cơ cấu tổng tài sản của các doanh nghiệp tăng và ngược lại.2 Nghiên cứu trong nước Lê Thị Xuân (2015), nội dung đề cập đến những vấn đề cốt yếu mà doanh nghiệp đề cập đến trong kinh doanh như: những vấn đề cơ bản về tài chính doanh nghiệp, quản trị tài sản, nguồn vốn, đánh giá mức độ rủi ro trong hoạt động đầu tư,…Trong đó cuốn sách có nêu rõ các nội dung của tài sản ngắn hạn, các tiêu chí đánh giá hiệu quả tài sản doanh nghiệp. Đoàn Xuân Hòa (2014), tác giả đã nghiên cứu về hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty cổ phần bê tông và xây dựng VINACONEX Xuân Mai, một công ty hoạt động trong lĩnh vực xây dựng. Trong đó có phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn nhưng do đề tài luận văn đề cập đến hiệu quả sử dụng tài sản nói chung (bao gồm tài sản ngắn hạn, tài sản dài hạn và tổng tài sản) nên chưa đi sâu vào nghiên cứu hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn. Vì vậy luận văn chỉ đề cập đến một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn như: Hiệu suất sử dụng TSNH, Hệ số sinh lời TSNH, Kỳ thu tiền bình quân, Vòng quay hàng tồn kho và bỏ qua một số chỉ tiêu khác.
Nông Thị Ngân Giang (2015), tác giả đã nghiên cứu về hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Cổ phần bánh kẹo Hải Hà. Với việc phân tích chi tiết vấn đề cùng với sự so sánh tất cả các chỉ tiêu của doanh nghiệp với chỉ số trung bình ngành, tác giả đã kết luận rằng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty khá tốt, ở mức trung bình và ít biến động qua các năm. Tuy nhiên công ty vẫn gặp một số khó khăn, vướng mắc trong công tác quản lý và sử dụng vốn lưu động như tốc độ thu hồi nợ đang có xu hướng giảm, hàng tồn kho tăng do sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của thị trường. Vì vậy, tác giả đã đưa ra ý kiến công ty cần phải đa dạng hóa, cải tiến về mẫu mã và chất lượng sản phẩm để tăng khả năng cạnh tranh, siết chặt chính sách tín dụng để quản lý chặt chẽ các khoản phải thu.
Dương Thị Văn (2018), tác giả hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về tài sản ngắn hạn và hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn. Phân tích thực trạng hiệu quả 6 sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty Cổ phần thiết bị nâng Hải Hà, tác giả đã để nhận thấy công ty đã có những tiến bộ trong việc quản lý hàng tồn kho khi mà số vòng quay hàng tồn kho liên tục tăng mạnh trong giai đoạn 2013 – 2017 và khả năng thanh toán của công ty cũng rất tốt. Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra các hạn chế của công ty như khả năng sinh lời TSNH giảm, hiệu quả sử dụng tiền mặt của công ty không tốt khi mà công ty nắm giữ quá nhiều tiền mặt, khoản phải thu ngắn hạn tăng do khả năng thu hồi nợ kém. Từ đó, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm giúp cho công ty nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn, trong đó nổi bật là giải pháp hoàn thiện công tác nâng cao trình độ cán bộ quản lý và công nhân.
Bởi theo tác giả, trong những năm qua Công ty Hải Hà chưa tận dụng được hết sức lực, trí tuệ của cán bộ công nhân viên, công ty cần phải xem xét lại cơ cấu nhân sự, tìm hiểu đánh giá năng lực của từng người và tăng cường nâng cao trình độ, tay nghề của cán bộ công nhân viên qua các lớp bồi dưỡng, đào tạo nghiệp vụ. Trần Thị Bích Vân (2016), tác giả đã nghiên cứu và đưa ra một số giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Tổng Công ty Cổ phần Xây dựng và Thương mại Việt Nam. Theo đó, tác giả đã kết luận rằng khoản mục tiền và các khoản tương đương tiền của công ty chỉ được quản lý dựa vào kinh nghiệm và có đưa ra ví dụ về việc áp dụng mô hình Miller – Orr trong việc xác định nhu cầu tồn trữ tiền mặt tối ưu cho quý 1/2016. Bên cạnh đó, đối với các khoản phải thu ngắn hạn, tác giả có đề xuất thành lập ban thu hồi công nợ, các khoản phải thu khó đòi thì phải xác định rõ nguyên nhân và tình hình làm ăn của đối tác, công ty có thể sử dụng các phương pháp thanh toán linh hoạt như thanh toán nợ bằng sản phẩm, bằng cách nhượng lại các dự án, nguyên vật liệu…Đối với hàng tồn kho, tác giả cũng đã đưa ra các giải pháp cho từng thành phần như theo dõi sát sao khâu nghiệm thu và quyết toán để ghi nhận doanh thu, xác định định mức tiêu hao nguyên vật liệu và xác định lượng nguyên vật liệu dự trữ.
Vũ Thị Thùy Linh (2019), tác giả đã nghiên cứu cụ thể thực trạng sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty Cổ phần Liên doanh Sơn Quốc Tế Mỹ. Tại đây, tác giả đã chỉ ra rằng trong giai đoạn 2016 – 2018, hàng tồn kho vẫn chiếm tỷ trọng cao, khả năng thanh toán vẫn còn thấp, công tác thu hồi nợ của công ty cần được cải thiện bởi công ty thường dựa vào kinh nghiệm, quan sát trực quan để quản lý mà chưa sử 7 dụng các mô hình. Vậy nên tác giả đã đề xuất một số giải pháp để nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng tiền mặt, khoản phải thu cũng như hàng tồn kho của Công ty Sơn Quốc Tế Mỹ. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trước đều đã chỉ ra được cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, phân tích và đưa ra các giải pháp cụ thể cho doanh nghiệp tuy nhiên do những khác biệt về thời gian, lĩnh vực ngành nghề nên vẫn còn những khoảng trống tri thức.
Kế thừa và phát huy từ các nghiên cứu đó, bài luận “Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Nông sản Hoàng Gia” sẽ phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của công ty Hoàng Gia trong giai đoạn 2018 -2020 và đưa ra các giải pháp riêng đối với từng khoản mục phù hợp với một công ty vận tải nhỏ.2 Cơ sở lý luận về nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại doanh nghiệp 1.1 Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp 1. Khái niệm Tài sản là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát và có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai, bao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn. Trong đó tài sản ngắn hạn có ý nghĩa rất quan trọng đối với doanh nghiệp, quyết định trực tiếp đến tính liên tục ổn định trong kinh doanh của doanh nghiệp. Vậy tài sản ngắn hạn là gì? Trần Ngọc Thơ (2009) cho rằng: “Tài sản ngắn hạn hay cũng gọi là tài sản lưu động là một khoản mục trong bảng cân đối kế toán bao gồm tất cả các loại tài sản có thể dễ dàng chuyển đổi sang tiền mặt trong vòng một năm hay một chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Tài sản ngắn hạn bao gồm tiền mặt và các khoản tương đương tiền, các khoản phải thu ngắn hạn, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, hàng tồn kho và những tài sản có tính thanh khoản khác.” Hay Lưu Thị Hương (2013) đã nêu rõ: “Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là những tài sản thuộc quyền sở hữu và quản lý của doanh nghiệp, có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong một kỳ kinh doanh hoặc một năm. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có thể tồn tại dưới hình thái tiền, hiện vật (vật tư, hàng hóa), dưới dạng đầu tư ngắn hạn và các khoản nợ phải thu.