Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Thực trạng phát triển DNNVV trên địa bàn huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Chương 3 Một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển DNNVV trên địa bàn huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Những vấn đề chung về doanh nghiệp vừa và nhỏ 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm doanh nghiệp Doanh nghiệp là một bộ phận quan trọng cấu thành nền kinh tế, có mối quan hệ chặt chẽ với các bộ phận khác. Sự phát triển của doanh nghiệp gắn liền với sự phát triển của các phƣơng thức sản xuất.
Do đó hiểu về doanh nghiệp một cách sâu sắc là cơ sở để nghiên cứu phát triển doanh nghiệp một cách toàn diện hơn. Luật Doanh nghiệp Việt Nam được Quốc hội thông qua năm 2014 đã đưa ra khái niệm về doanh nghiệp“ Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”[16].2 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo từ điển Bách khoa toàn thƣ: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu. DNNVV là những cơ sở sản xuất kinh doanh vì mục đích lợi nhuận, có quy mô doanh nghiệp trong những giới hạn nhất định theo các tiêu thức vốn, lao động, doanh thu, giá trị thu đƣợc trong từng thời kỳ theo quy định của từng quốc gia. Ngày 11/3/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 39/2018/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của luật hỗ trợ DNNVV.
Nghị định này thay thế Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn hoặc số lao động bình quân năm. 7 Tiêu chí DNNVV theo Nghị định số 39/2018/NĐ- CP đƣợc xác định nhƣ sau: Bảng 1. 3 Bảng tiêu chí đánh giá DNNVV theo NĐ số 39/2018/NĐ- CP Lĩnh Nông lâm nghiệp thủy sản và Thƣơng mại và dịch vụ vực công nghiệp xây dựng Có số lao Tổng doanh Có số lao động Tổng doanh thu của động thu của tham gia năm không quá DN tham gia năm không quá 3 tỷ đồng BHXH 10 tỷ đồng siêu BHXH hoặc tổng bình quân hoặc tổng nguồn vốn nhỏ bình quân nguồn vốn năm không không quá năm không không quá quá 10 ngƣời 3 tỷ đồng quá 10 ngƣời 3 tỷ đồng Có số lao Tổng doanh Có số lao động Tổng doanh thu của động thu của tham gia năm không quá tham gia năm không quá 50 tỷ đồng DN BHXH 100 tỷ đồng BHXH hoặc tổng nhỏ bình quân hoặc tổng nguồn vốn bình quân nguồn vốn năm không không quá năm không không quá quá 50 ngƣời 50 tỷ đồng quá 100 ngƣời 20 tỷ đồng Có số lao Tổng doanh Có số lao động Tổng doanh thu của động thu của tham gia năm không quá tham gia năm không quá 200 tỷ đồng DN BHXH 300 tỷ đồng BHXH hoặc tổng vừa bình quân hoặc tổng nguồn vốn bình quân nguồn vốn năm không không quá năm không không quá quá 100 ngƣời 100 tỷ đồng quá 200 ngƣời 100 tỷ đồng 1.3 Khái niệm phát triển DNNVV - Khái niệm phát triển: Theo theo quan điểm triết học, Phát triển là sự vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp của một sự vật, hiện tƣợng nào đó.
8 Quá trình phát triển có thể diễn ra từ từ hoặc diễn ra nhanh chóng (hay còn gọi là nhảy vọt) để sinh ra những sự vật, hiện tƣợng mới thay thế cho những sự vật, hiện tƣợng cũ. Sự phát triển là quá trình vận động, thay đổi về lƣợng dẫn đến những thay đổi về chất. Chu kỳ này diễn ra theo hình xoắn ốc, nghĩa là đi hết một chu kỳ thì quá trình phát triển sẽ quay lại mức ban đầu và tiếp tục vận động để có sự thay đổi về lƣợng dẫn đến thay đổi về chất (nhƣng ở một cấp độ cao hơn chu kỳ ban đầu). - Khái niệm phát triển doanh nghiệp: Phát triển doanh nghiệp nhằm giúp cho các tổ chức trong việc đối phó với môi trƣờng bất ổn, cả trong nội bộ và bên ngoài doanh nghiệp, thƣờng xuyên bằng những nỗ lực để ứng phó thay đổi kế hoạch với môi trƣờng bất ổn.
Những nỗ lực phát triển doanh nghiệp, cho dù đƣợc hỗ trợ bởi một chuyên gia bên ngoài hoặc tổ chức chuyên nghiệp và tiến hành trên cơ sở liên tục, mang lại thay đổi kế hoạch trong các tổ chức và các nhóm trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, chúng chỉ là một loại thay đổi xảy ra trong các tổ chức, cho sự thay đổi có thể đƣợc cả hai kế hoạch và không có kế hoạch và có thể xảy ra trong mọi chiều kích của môi trƣờng kinh doanh. Khan (2012) phát triển doanh nghiệp là cách tiếp cận từ các phần tử kết hợp bao gồm: kinh doanh, hỗ trợ tài chính, chính sách phù hợp và thể chế, các mối liên kết, công nghệ phù hợp và mối quan hệ thị trƣờng/nhu cầu cho các sản phẩm. Theo Hoàng Thị Ánh Minh (2019), Phát triển DNNVV là quá trình lớn lên về số lƣợng, quy mô của doanh nghiệp (lao động, nguồn vốn, doanh thu); hiệu quả hơn về chất lƣợng doanh nghiệp (lợi nhuận trên doanh thu, lợi nhuận trên 01 lao động, lợi nhuận trên vốn… thời kỳ sau cao hơn thời kỳ trƣớc) và có sự hoàn chỉnh hơn về cơ cấu DN theo vùng lãnh thổ, thành phần kinh tế và ngành sản xuất kinh doanh ” [12].
Từ các khái niệm trên, tác giả xác định khái niệm phát triển DNNVV là quá trình DNNVV gia tăng về số lƣợng, quy mô; nâng cao chất lƣợng, hiệu quả hoạt động và hoàn thiện về cơ cấu doanh nghiệp.2 Đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.1 Doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc nhiều thành phần kinh tế DNNVV là loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh thuộc nhiều thành phần kinh tế với nhiều hình thức tổ chức DN nhƣ: DN nhà nƣớc, DN tập thể, DN tƣ nhân, công ty hợp danh, công ty cổ phần có vốn nhà nƣớc, công ty cổ phần không có vốn nhà nƣớc, công ty trách nhiệm hữu hạn tƣ nhân, DN 100% vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài và DN liên doanh với nƣớc ngoài. Các thành phần kinh tế với sự đa dạng các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh đều là những bộ phận cấu thành của nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN ở nƣớc ta và tồn tại lâu dài, đan xen nhau, hợp tác và cạnh tranh với nhau.2 Doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy mô vốn và lao động nhỏ. Hầu hết các DNNVV có nguồn tài chính đƣa vào hoạt động từ những khoản tiền dành dụm tích góp cá nhân, các thành viên trong gia đình hay vay mƣợn bạn bè, ngƣời thân; do đó DNNVV thƣờng gặp nhiều khó khăn trong việc vay vốn từ các định chế tài chính bởi họ không thể đáp ứng đƣợc những điều kiện cho vay thông thƣờng do các ngân hàng đòi hỏi 1.2 Doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy mô vốn và lao động nhỏ, quy trình sản xuất đơn giản, địa điểm mặt bằng sản xuất không lớn Hầu hết các DNNVV có nguồn tài chính đƣa vào hoạt động từ những khoản tiền dành dụm tích góp cá nhân, các thành viên trong gia đình hay vay mƣợn bạn bè, ngƣời thân; do đó DNNVV thƣờng gặp nhiều khó khăn trong việc vay vốn từ các định chế tài chính bởi họ không thể đáp ứng đƣợc những điều kiện cho vay thông thƣờng do các ngân hàng đòi hỏi. Với đặc điểm quy trình sản xuất kinh doanh đơn giản, dễ phát huy bản chất hợp tác.
Đặc biệt, các DNNVV đầu tƣ vào tài sản cố định không nhiều do nguồn vốn hạn chế, thƣờng đầu tƣ vào các ngành thâm dụng lao động nên tạo đƣợc nhiều việc làm, góp phần giải quyết thất nghiệp. Địa điểm mặt bằng sản xuất kinh doanh không lớn và thƣờng sử dụng chính những diện tích đất riêng của mình làm mặt bằng sản xuất. 10 Với những đặc điểm nêu trên đã tạo nên những ƣu điểm của DNNVV nhƣ sau: - Dễ khởi nghiệp: Do vốn ít, lao động không đòi hỏi chuyên môn cao; với đặc tính chu kỳ sản phẩm ngắn nên các doanh nghiệp có thể sử dụng vốn tự có hoặc vay mƣợn bạn bè, các tổ chức tín dụng. Hơn nữa, quy trình tổ chức quản lý trong các DNNVV gọn nhẹ, khi hoạt động kinh doanh gặp khó khăn thì nội bộ doanh nghiệp dễ dàng bàn bạc, thống nhất hành động.
Vì vậy, DNNVV dễ dàng khởi sự và hoạt động nhạy bén theo cơ chế thị trƣờng. Hiện nay ở Việt Nam, một chủ thể có ý tƣởng SXKD cộng với một số ít vốn, một số lao động nhất định và mặt bằng không lớn là có thể khởi sự đƣợc DN. - Các DNNVV có tính linh hoạt, năng động cao, dễ thích ứng với các biến động của thị trƣờng. Do quy mô không lớn, nên DNNVV rất năng động và dễ thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của thị trƣờng.
Các DN đó dễ hoạt động cũng nhƣ dễ rút lui khỏi lĩnh vực kinh doanh. Nghĩa là “ đánh nhanh, thắng nhanh, và chuyển hƣớng nhanh”. Đây là lợi thế mà các doanh nghiệp lớn không có đƣợc. Nhờ tính linh hoạt trong kinh doanh mà các DNNVV dễ lấp khoảng trống của thị trƣờng, có khả năng chống đỡ những cú sốc của khủng hoảng kinh tế.
- Các DNNVV có cơ cấu tổ chức quản lý gọn nhẹ số lƣợng lao động không nhiều do đó công tác tổ chức, điều hành không quá phức tạp nhƣ những doanh nghiệp lớn. Nhờ đó nâng cao hiệu quả quản lý và sản xuất kinh doanh, tiết kiệm đƣợc đƣợc chi phí. Hơn nữa lao động trong các doanh nghiệp này không đòi hỏi trình độ chuyên môn cao nên dễ dàng thu hút lao động với chi phí thấp, nhờ đó tăng hiệu quả sử dụng vốn. - DNNVV có một số lợi thế trong việc theo sát nhu cầu và thị hiếu của ngƣời tiêu dùng, qua đó sáng tạo ra nhiều loại sản phẩm hàng hoá và dịch vụ mới, đáp ứng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng của khách hàng.
Về khía cạnh này, có thể nói DNNVV có một số lợi thế trong việc định hƣớng và làm xuất hiện nhiều nhu cầu mới từ phía ngƣời tiêu dùng. - DNNVV dễ phát huy bản chất hợp tác.