CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 1. ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ TINH THẦN LẬP NGHIỆP 1. Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một hiện tượng toàn cầu và được hiểu rộng rãi như một tiền đề quan trọng để phát triển kinh tế, là một yếu tố quan trọng của kinh tế quốc tế; dòng chảy vốn, công nghệ, kiến thức và kỹ năng vượt qua biên giới quốc gia tạo cơ hội cho các nước đang phát triển bắt kịp với các nước khác (Javorcik, 2004). “FDI là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp” (IMF, 1993).
Theo Luật đầu tư năm 2005 của Việt Nam mà Quốc hội thông qua có thể tổng hợp lại như sau: “FDI là hình thức đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở Việt Nam hoặc nhà đầu tư Việt Nam bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở nước ngoài”. Do vậy, có thể hiểu chung nhất từ các định nghĩa trên thì FDI là hình thức mà các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư các nguồn lực như tiền, công nghệ… từ nước này sang nước khác, đồng thời dựa trên quyền sở hữu đó để giành quyền điều hành, quản lý nhằm mục đích thu được lợi ích kinh tế từ nước thu hút đầu tư (nước nhận đầu tư). Tinh thần lập nghiệp: 1. Khái niệm về tinh thần lập nghiệp (entrepreneurship): Thuật ngữ “tinh thần lập nghiệp – entrepreneurship” có ít nhất 2 nghĩa (Sternberg và Wennekers, 2005).
Đầu tiên, tinh thần lập nghiệp liên quan đến việc sở hữu và quản lý 10 một doanh nghiệp. Đây chính là khái niệm mang tính thực tiễn của tinh thần lập nghiệp. Theo ý nghĩa này, khía cạnh động sẽ tập trung vào việc sáng lập các doanh nghiệp mới, và khía cạnh tĩnh tập trung liên quan đến số lượng người sở hữu doanh nghiệp. Thứ hai, tinh thần lập nghiệp được hiểu là hành vi sáng nghiệp theo ý nghĩa nắm bắt một cơ hội kinh tế nào đó.
Đây là khái niệm mang tính hành vi của tinh thần lập nghiệp. Những người lập nghiệp không nhất thiết được hiểu là người sở hữu doanh nghiệp. Có một hướng tiếp cận nghiên cứu mới là xem xét việc thiết lập đầu tư mạo hiểm như là một tiêu chuẩn của tinh thần lập nghiệp – với cách hiểu kết hợp giữa lập nghiệp hành vi và lập nghiệp thực tiễn động (Cooper, 2003). Do vậy, người lập nghiệp là người chuyên đưa ra các quyết định phán đoán về kết hợp các nguồn lực khan hiếm (Casson, 2010).
Thuật ngữ này nhấn mạnh rằng người lập nghiệp là một cá nhân. Thuật ngữ phán đoán hàm ý quyết định không thể đơn thuần là việc áp dụng thường lệ một quy tắc chuẩn nào đó. Ý tưởng rằng việc nhận thức các cơ hội là chủ quan, nhưng các cơ hội là khách quan, vốn có lịch sử lâu đời trong lý thuyết lập nghiệp. Khái niệm lập nghiệp cũng có thể được tìm thấy trong nghiên cứu rất sớm của Schumpeter (1934), người xác định rõ ràng rằng người lập nghiệp là người tạo biến chuyển lớn cho phát triển kinh tế, là người sáng tạo chịu trách nhiệm về việc làm những điều mới mẻ hay thực hiện những việc theo cách mới.
Điều này có thể bao gồm (i) tạo ra một sản phẩm mới; (ii) phương pháp sản xuất mới; (iii) mở một thị trường mới; (iv) nắm bắt một nguồn cung mới; hoặc (v) tổ chức công nghiệp mới (Acs và Audretsch, 2010). Ông cho rằng hành động lập nghiệp là nguyên nhân chính của chu kỳ kinh doanh và phát triển kinh tế, một làn sóng đổi mới kinh doanh làm ảnh hưởng tới nền kinh tế, thay thế các sản phẩm cũ và các quy trình sản xuất, tiếp theo đó là việc bắt chước nhanh bởi các đối thủ cạnh tranh mới. Động lực của cạnh tranh không chỉ từ tối đa hóa lợi nhuận mà từ khát vọng, phẩm chất, cá tính của nhà lập nghiệp - người luôn tìm cách đổi mới để cạnh tranh, dẫn đến sự đột phá mang tính sáng tạo, tạo ra chuỗi biến động để hình thành cái mới và hủy diệt cái cũ. Như nhà kinh tế học G.
11 Schackle từng viết, “Người lập nghiệp là người làm nên lịch sử, nhưng phương thức làm nên điều đó chính là phán đoán về các khả năng chứ không phải tính toán những điều chắc chắn” (Hébert và Link, 1988). Định nghĩa về tinh thần lập nghiệp (entrepreneurship) được sử dụng trong nghiên cứu này là mức độ hình thành doanh nghiệp mới, được định nghĩa là quá trình mà một cá nhân hoặc một nhóm cá nhân hành động một cách độc lập, không có bất kỳ liên hệ nào với một tổ chức hiện hành, nhằm tạo ra các tổ chức mới (Sharma và Chrisman, 2007). Định nghĩa này nằm ngoài bối cảnh các tổ chức được thiết lập trước đó và phù hợp với tiếp cận sớm của Schumpeter (1934), cũng như phù hợp với lập nghiệp cơ hội và lập nghiệp giá trị cao. Khái quát tình hình nghiên cứu về tinh thần lập nghiệp: Những nghiên cứu sớm về tinh thần lập nghiệp (entrepreneurship) xuất hiện từ nửa đầu thế kỷ 20, nổi bật là nghiên cứu của Knight (1921) và Schumpeter (1934).
Kể từ đó, rất nhiều nỗ lực nghiên cứu đã diễn ra nhằm mở rộng lĩnh vực nghiên cứu tinh thần lập nghiệp và dự báo các khuynh hướng nghiên cứu cho tương lai. Những nỗ lực đầu tiên để hợp nhất và dự báo nghiên cứu lập nghiệp diễn ra tận nửa sau thế kỷ 20 với công trình Bách khoa tinh thần lập nghiệp của (Kent và cộng sự, 1982), xem xét lại nhiều phương diện của lập nghiệp, đi từ phương diện tâm lý học và xã hội học cho đến các hiệu ứng kinh tế học, và đề ra những hướng tương lai về nghiên cứu, giảng dạy và thực tiễn. Low và MacMillan (1988) sử dụng 6 dạng mô hình thiết kế nghiên cứu để hiểu cách thức lập nghiệp được nghiên cứu: mục đích, phương diện lý thuyết, tập trung, mức độ phân tích, chuỗi thời gian, và phương pháp. Ông ghi nhận những hạn chế của nghiên cứu lập nghiệp và kêu gọi các nghiên cứu hướng lý thuyết.
Sau đó, Shane và Venkataraman (2000) đề xuất 2 trụ cột chính của nghiên cứu lập nghiệp, bao gồm các cơ hội (gồm nguồn lực, phát hiện, đánh giá, và khai phá) và người lập nghiệp (các cá 12 nhân tìm kiếm, phát hiện, đánh giá, và khai phá các cơ hội), và cho rằng nghiên cứu nên phát triển theo những hướng này. Gần đây, nhiều học giả đã xem xét lại các nghiên cứu hiện hành nhằm đánh giá những gì đã biết và quan sát sự phân nhánh của lĩnh vực lập nghiệp (chẳng hạn như Burg và cộng sự (2013)). Các nghiên cứu lập nghiệp cho thấy sự ảnh hưởng mạnh của các tiếp cận lý thuyết được vay mượn từ các ngành khoa học tự nhiên (Landström và cộng sự, 2012). Các khung lý thuyết cũng cho thấy một sự phát triển mạnh mẽ về số lượng các bài báo được công bố trong thập kỷ trước cũng như sự thống trị của các nhà nghiên cứu Ango-Saxon (Landström và cộng sự, 2012).
Tuy vậy, các học giả châu Âu và Trung Quốc đang ngày càng quan tâm nhiều vào lĩnh vực nghiên cứu tinh thần lập nghiệp và tạo ra lợi thế chuyên biệt vùng trong nghiên cứu của họ (Jing và cộng sự, 2015). Nghiên cứu về tinh thần lập nghiệp phân tích rất nhiều chủ đề và tình huống, từ điểm khởi đầu cho đến kết quả của tiến trình lập nghiệp. Ví dụ, các cơ hội lập nghiệp được nghiên cứu kỹ bởi nhiều phương diện (Busenitz và cộng sự, 2003, Busenitz và cộng sự, 2014). Các vấn đề nhận thức cơ hội – như tạo ra, xác định, hay ghi nhận – và khai phá cơ hội – gồm đánh giá các cơ hội – thu hút sự chú ý của nhiều học giả (Burg và cộng sự, 2013).
Một số nghiên cứu vượt ra ngoài phạm vi nhận thức và khai phá để đánh giá kết quả của các cơ hội (Burg và cộng sự,2013). Những tiếp cận khác bao gồm nhận thức cá nhân về cơ hội với việc nhấn mạnh vào kiến thức và các trải nghiệm trước đó (Short và cộng sự, 2010). Mặc dù những nghiên cứu cổ điển nhấn mạnh các cơ hội như là cốt lõi của tinh thần lập nghiệp (ví dụ Kirzner (1973)), các cơ hội từng được coi là “câu hỏi bị bỏ qua nhất trong lý thuyết lập nghiệp” (Venkataraman, 1997). Tuy nhiên, bối cảnh nghiên cứu đến nay đã thay đổi khi nghiên cứu liên quan đến tập hợp cơ hội đã tăng lên (xem Busenitz và cộng sự,(2014)).
Những giai đoạn đầu của tiến trình lập nghiệp cũng được phân tích, đặc biệt là giai đoạn lập nghiệp non trẻ. Các nhà lập nghiệp non trẻ là những người đấu tranh để bắt 13 đầu khoản đầu tư mạo hiểm của mình và doanh nghiệp của họ vẫn chưa hoạt động đầy đủ (Reynolds, 2005). Xác định thách thức chính và kết quả của các nhà lập nghiệp non trẻ, thành công của họ, và đặc biệt là cái gì chi phối một cá nhân khi bắt đầu đầu tư mạo hiểm là những câu hỏi mà trường phái nghiên cứu này đi tìm kiếm câu trả lời (Reynolds, 2005). Một trường phái nghiên cứu khác tập trung vào mạng lưới lập nghiệp, với sự hỗ trợ lý thuyết từ lý thuyết mạng lưới xã hội nhưng đưa vào nhiều quan điểm thực tiễn khi xem xét cách thức tinh thần lập nghiệp bị chi phối bởi mạng lưới xã hội của các cá nhân, mạng lưới lập nghiệp về bản chất là khác với các mạng lưới phi lập nghiệp (Granovetter, 1985), và giá trị của các mạng lưới người lập nghiệp cho các thời kỳ đầu của chu kỳ sống doanh nghiệp.
Các mạng lưới này là quan trọng đối với việc tiếp cận kiến thức (ví dụ, ghi nhận các cơ hội) và các nguồn lực (tài chính, kỹ thuật, tài sản hữu hình, thông tin, danh tiếng) và do vậy quan trọng cho sự thành công của đầu tư mạo hiểm. Tiếp cận này có liên hệ tới các quan điểm dựa trên kiến thức và nguồn lực (Alvarez và Busenitz, 2001). Bên cạnh đó, phân tích lập nghiệp ở mức độ công ty được cho là mang lại sự hiểu biết tốt hơn về tiến trình tạo ra giá trị công ty và có thể chứng minh lập nghiệp nhờ nguồn lực nội tại góp phần vào tăng năng lực và tính hiệu quả của hoạt động doanh nghiệp (Alvarez và Busenitz, 2001).