Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Tăng trưởng xanh là mô hình mà nhiều quốc gia trên thế giới hướng đến để giải quyết những vấn đề tồn tại liên quan đến ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu. Đây còn là vấn đề sống còn đối với các doanh nghiệp khi muốn tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Nghiên cứu về phát triển doanh nghiệp xanh và phát triển doanh nghiệp theo hướng xanh đã được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm. Theo những lát cắt khác nhau có thể kể đến một số những công trình nghiên cứu tiêu biểu: 1.
NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP (NGÀNH CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ) Nghiên cứu về phát triển doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp ngành công nghiệp hỗ trợ có công trình nghiên cứu của Hoàng Văn Châu (2010) trong cuốn sách, “Công nghiệp hỗ trợ: Kinh nghiệm của các nước và giải pháp cho Việt Nam”. Tác giả đã nêu những vấn đề khái quát chung về CNHT và các mô hình phát triển CNHT; tác giả đã đi sâu phân tích chính sách phát triển CNHT của một số nước như Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc, Malaysia. từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho quá trình phát triển CNHT tại Việt Nam. Một nghiên cứu khác của Hoàng Văn Châu (2010) về “Phát triển CNHT dệt may của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập KTQT” bên cạnh việc đưa ra quan điểm về phát triển doanh nghiệp, đã xây dựng bộ tiêu chí đánh giá sự phát triển của CNHT bao gồm: (1) số lượng doanh nghiệp CNHT; (2) quy mô DN CNHT; (3) trình độ công nghệ của DN CNHT; (4) mức độ liên kết giữa DN CNHT với khách hàng và các nhà cung cấp; (5) mức độ đáp ứng của ngành CNHT đối với ngành CN sản xuất sản phẩm chính [30].
Tương tự, Nguyễn Thị Kim Thu (2012), Hà Thị Hương Lan (2013) trong nghiên cứu đã chỉ ra tiêu chí để đánh giá mức độ phát triển của CNHT là: quy mô doanh nghiệp CNHT; trình độ công nghệ và tỷ lệ nội địa hóa; năng lực cạnh 13 tranh của sản phẩm công nghiệp hỗ trợ; mức độ đáp ứng yêu cầu của ngành công nghiệp hạ nguồn; trình độ nguồn nhân lực[37], [31]. Về tiêu chí đánh giá sự phát triển của doanh nghiệp, năm 2018, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1255/ QĐ-TTg, phê duyệt Đề án xây dựng bộ chỉ tiêu đánh giá mức độ phát triển doanh nghiệp bao gồm: Bảng 1. Bộ tiêu chí đánh giá mức độ phát triển doanh nghiệp STT Nội dung đánh giá Ghi chú 1 Mức độ phát triển về số lượng DN 07 chỉ tiêu đánh giá 2 Mức độ phát triển về lao động 07 chỉ tiêu đánh giá 3 Mức độ thu hút vốn đầu tư và tài chính 07 chỉ tiêu đánh giá 4 Đầu tư và phát triển khoa học công nghệ 12 chỉ tiêu đánh giá 5 Chiến lược kinh doanh, phát triển thị trường, 08 chỉ tiêu đánh giá xây dựng thương hiệu…. 6 Bảo vệ môi trường 04 chỉ tiêu đánh giá 7 Kết quả, hiệu quả phát triển doanh nghiệp 10 chỉ tiêu đánh giá Nguồn: Quyết định số 1255/ QĐ-TTg ngày 26/9/2018 [17] Về các nhân tố tác động đến phát triển doanh nghiệp, đã có các công trình nghiên cứu về các yếu tố tác động đến sự phát triển doanh nghiệp và phát triển doanh nghiệp CNHT như: Trương Thị Chí Bình (2010), trong nghiên cứu “Phát triển CNHT trong ngành điện tử gia dụng ở Việt Nam” đã chỉ ra nhân tố ảnh hưởng đến phát triển CNHT trước tiên là vai trò của chính phủ, từ việc lựa chọn quan điểm phát triển CNHT đến chính sách phát triển công nghiệp.
Các chính sách này tạo điều kiện hay kìm hãm phát triển CNHT là do quan điểm, định hướng phát triển của chính phủ về vấn đề này. Nhân tố tiếp theo là sự phát triển của các tập đoàn đa quốc gia (TĐĐQG). Các tập đoàn này đầu tư ở đâu sẽ kéo theo các công ty con, những nhà sản xuất linh kiện phụ trợ, hay các nhà cung ứng cho chính họ. Vì vậy, TĐĐQG không chỉ giúp hiện đại hóa một ngành 14 kinh tế mà còn tạo ra lợi thế cạnh tranh cho quốc gia đó bên cạnh những đóng góp cho xã hội.
Tiếp theo là yếu tố năng lực nội tại của mỗi quốc gia trong phát triển CNHT. Các năng lực này bao gồm: năng lực nội địa hóa; sự tích tụ công nghiệp; lợi thế cạnh tranh quốc gia; sự phát triển của các cụm liên kết ngành [51]. Trần Đình Thiên, trong nghiên cứu “Phát triển CNHT - Đánh giá thực trạng và hệ quả” cho rằng, các yếu tố quyết định sự phát triển của CNHT bao gồm: Khả năng cạnh tranh; Dung lượng thị trường; Nguồn nhân lực công nghiệp; Môi trường chính sách và Khoảng cách giữa thông tin và nhận thức… Theo Trần Đình Thiên, CNHT Việt Nam còn thiếu và yếu là do dung lượng thị trường nhỏ, không đủ đảm bảo tính hiệu quả về qui mô cho các doanh nghiệp CNHT. Bên cạnh đó, môi trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp chậm được cải thiện, sức cạnh tranh của sản phẩm hỗ trợ còn thấp do năng suất thấp, giá thành cao, chất lượng không ổn định, thời hạn giao hàng không đảm bảo; … Tuy nhiên, CNHT Việt Nam vẫn có tiềm năng phát triển trong bối cảnh của xu thế phát triển khoa học công nghệ của thế giới, xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực [50].
Đỗ Thúy Nga, trong nghiên cứu “Phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn Thành phố Hà Nội” đã chỉ ra các nhân tố tác động đến phát triển công nghiệp hỗ trợ bao gồm: Cơ chế chính sách của Nhà nước; Tiến bộ khoa học công nghệ; Môi trường chính trị văn hóa; Cơ sở hạ tầng; Nguồn nhân lực; Nguồn lực tài chính; Thị trường của các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ; Các quan hệ liên kết khu vực và toàn cầu, ảnh hưởng của các tập đoàn đa quốc gia [27] 1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP GẮN VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG XANH Tác giả Thomsen C (2013) đã đưa ra định nghĩa về doanh nghiệp xanh là “doanh nghiệp hoạt động dựa trên nguyên tắc tăng cường hiệu quả sử dụng các nguồn lực và có những hành động cam kết giảm thiểu tác động tiêu cực tới môi trường nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh và hướng đến sự phát triển bền vững trong tương lai. Yếu tố cốt lõi trong việc thực hiện xanh hóa doanh nghiệp xuất 15 phát từ việc thường xuyên thực hiện phân tích quy trình, hoạt động sản xuất, tổ chức, kinh doanh nhằm thực hiện các cải tiến nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh và giảm thiểu tác động tới môi trường”[141]. Về doanh nghiệp theo hướng xanh, Hoàng Hồng Hạnh đã đưa ra khái niệm doanh nghiệp theo hướng TTX cũng như các chỉ tiêu đánh giá thực hiện TTX của các doanh nghiệp ngành bia.
Luận án nghiên cứu về góc độ môi trường. Vì vậy, khái niệm về doanh nghiệp theo hướng xanh tập trung vào các nội dung như sự dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên, giảm phát thải gây ô nhiễm môi trường…Các tiêu chí đánh giá đi sâu vào các nội dung mang tính kỹ thuật trong quy trình sản xuất bia nhằm sự dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên và giảm phát thải [32]. Bên cạnh đó, Chin & cộng sự (2016) trong nghiên cứu của nhóm đã đưa ra định nghĩa hoạt động xanh (tăng trưởng xanh) của doanh nghiệp là hành vi môi trường, không chỉ những hoạt động trực tiếp mà bao gồm cả những hoạt rộng mở rộng để hỗ trợ doanh nghiệp trong việc ra các quyết định có lợi cho môi trường. Có 2 cách phân loại hoạt động tăng trưởng xanh của doanh nghiệp đó là sản phẩm và hỗ trợ về cơ sở hạ tầng.
Căn cứ vào đó, tác giả đã chia các hoạt động tăng trưởng xanh của doanh nghiệp thành 4 loại: (1) các hoạt động theo ISO 1400; (2) quy trình sản xuất xanh; (3) kiểm soát ô nhiễm và (4) chứng nhận xanh [81]. Về đổi mới xanh, theo Castellacci and Lie, (2017) trong nghiên cứu có tiêu đề A taxonomy of green innovators: Empirical evidence from South Korea đã đưa ra khái niệm đổi mới xanh doanh nghiệp (green business innovation) có thể được định nghĩa là một quá trình góp phần tạo ra sản phẩm mới với mục tiêu giảm rủi ro môi trường, như ô nhiễm và hậu quả tiêu cực của tài nguyên [85] Dr. Antal Szabó (2017) trong nghiên cứu về “Doanh nghiệp SMEs xanh ở Công đồng Châu Âu” [88] đã đưa ra lý luận về doanh nghiệp xanh, chuyển đổi xanh và cơ chế khuyến khích hiệu quả cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong việc chuyển đổi xanh. Nghiên cứu cũng nêu rõ vai trò của doanh nghiệp SMEs đã đề ra kế hoạch hành động xanh (GAP) với các mục tiêu như: nâng cao hiệu 16 quả sử dụng tài nguyên của doanh nghiệp SMEs, hỗ trợ cho doanh nghiệp xanh; khai thác cơ hội của chuỗi cung ứng xanh, tạo điều kiện cho doanh nghiệp SMEs xanh tiếp cận thị trường.
* Về hoạt động xanh trong các doanh nghiệp: Buysse & cộng sự (2003) trong nghiên cứu với tiêu đề Proactive Environmental Strategies: A Stakeholder Management Perspective đã phân loại 5 hoạt động giúp doanh nghiệp hướng xanh là: (1) những hoạt động đầu tư vào sản phẩm hay quy trình sản xuất xanh; (2) kỹ năng của người lao động: đầu tư vào kỹ năng của người lao động; (3) đầu tư vào năng lực tổ chức; (4) hệ thống quản trị và sản xuất; (5) quá trình lập kế hoạch chiến lược và các yếu tố tác động đến tăng trưởng xanh [73]. Theo Lin và Ho (2011) trong nghiên cứu “Determinants of Green Practice Adoption for Logistics Companies in China” [109] đã chỉ ra những biến số được coi là đổi mới xanh bao gồm: tổng hợp các yếu tố, xử lý chất thải có trách nhiệm, thu mua sản phẩm sinh thái, giảm tiêu thụ năng lượng, giảm chất thải rắn / nước và khí thải, sử dụng các phương pháp sản xuất sạch hơn và sử dụng bao bì / thùng chứa có thể tái chế. Singh và cộng sự (2011) trong nghiên cứu có tiêu đề “Quantitative and Qualitative Benefits of Green Manufacturing: an Empirical Study of Indian Small and Medium Enterprises” [139] Đo lường thực hiện sản xuất xanh: điều tra thực nghiệm từ các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ấn Độ đã nghiên cứu về các mô hình sản xuất sạch hơn và đánh giá định lượng việc thực hiện xanh trong doanh nghiệp. * Các nghiên cứu về tiêu chí đánh giá doanh nghiệp xanh: UNIDO và UNEP đã đề xuất Bộ tiêu chí đánh giá DN thực hiện tăng trưởng xanh, chủ yếu áp dụng cho DN vừa và nhỏ vào năm 2010.