Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN DOANH NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ 1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến công nghệ cao, khu công nghệ cao 1. Các công trình nghiên cứu trong nước C.Ăngghen (2006), Toàn tập, Tập 46, phần II, [11]: Khi bàn đến các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, ngoài việc đề cao vai trò của hai yếu tố tư liệu sản xuất và người lao động, C.Mác nhấn mạnh vai trò của khoa học, coi đó là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Nghiên cứu tiến trình vận động và phát triển của xã hội loài người thông qua hoạt động sản xuất vật chất, C.Mác nhận định: “Sự phát triển của tư bản cố định là chỉ số cho thấy tri thức xã hội phổ biến (wissen knowledge) đã chuyển hóa đến mức độ nào đó thành lực lượng sản xuất trực tiếp” [11, tr. Theo luận điểm trên, tri thức khoa học được ứng dụng, được vật hóa thành máy móc, thiết bị, nhà xưởng, công cụ sản xuất (tư bản cố định) và được người lao động sử dụng trong quá trình sản xuất, do đó, nó trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.Mác khẳng định như sau: “Sự phát triển của hệ thống máy móc trên con đường ấy chỉ bắt đầu khi nền đại công nghiệp đã đạt được một trình độ phát triển cao hơn và tất cả các môn khoa học đều được phục vụ tư bản, còn bản thân hệ thống máy móc hiện có thì có những nguồn lực to lớn. Như vậy, phát minh trở thành một nghề đặc biệt và đối với nghề đó thì việc vận dụng khoa học vào nền sản xuất trực tiếp tự nó trở thành một trong những yếu tố có tính chất quyết định và kích thích” [11, tr. Luận điểm trên của C.Mác cho thấy, khoa học tự bản thân nó không thể tạo ra bất kỳ tác động nào mà phải thông qua sự ứng dụng và hoạt động thực tiễn của con người thì khoa học mới có thể phát huy được tác dụng.
Hay nói cách khác, khoa học trở thành lực lượng sản xuất với điều kiện là khoa học phải tồn tại dưới dạng lao động được vật hóa thành máy móc.Mác, khoa học không phải là một lực lượng sản xuất độc lập, đứng bên ngoài con người, mà khoa học chỉ có thể tạo ra những biến đổi trong quá trình sản xuất 9 thông qua hoạt động của con người. Khoa học đã được thẩm thấu vào tất cả các khâu của quá trình sản xuất, góp phần cải tiến công cụ lao động, tạo ra những đối tượng lao động mới, những phương tiện sản xuất tiên tiến, góp phần nâng cao kỹ năng, tay nghề, trình độ cho người lao động. Do vậy, trong thời đại ngày nay, khoa học đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển của lực lượng sản xuất hiện đại. Đặc biệt, quan điểm là cơ sở cho các quốc gia, trong đó có Việt Nam, lựa chọn những phương thức khai thác hiệu quả các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, đặc biệt là khoa học và con người.
Vũ Đình Cự, Trần Xuân Sầm (2006), Lực lượng sản xuất mới và kinh tế tri thức, [20], đã đề cập đến những vấn đề về công nghệ cao và lực lượng sản xuất mới; nền kinh tế tri thức với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay và đã đề cập đến nhiều nội dung liên quan mật thiết đến đề tài mà luận án nghiên cứu: Một là, trên cơ sở làm rõ các khái niệm cơ bản về KH&CN, tác giả đã phân tích, luận giải những vấn đề về công nghệ cao; vai trò, đặc điểm của các trụ cột của công nghệ cao như: Công nghệ thông tin (CNTT), công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu tiên tiến - công nghệ nano, công nghệ năng lượng mới. Hai là, tác giả đã phân tích vai trò của hệ thống công nghệ cao đối với lực lượng sản xuất mới bằng cách so sánh lực lượng sản xuất mới trong nền sản xuất hiện đại (cốt lõi là hệ thống công nghệ cao bao gồm 8 công nghệ cao cơ bản và hàng loạt công nghệ cao chuyên ngành) với lực lượng sản xuất cũ trên các yếu tố cấu thành của lực lượng sản xuất như con người lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động. Ba là, cuốn sách đã trình bày về vai trò, các bộ phận chủ yếu của khu công nghệ cao và một số khu công nghệ cao được thành lập sớm trên thế giới như thung lũng Silicon của Mỹ; thành phố khoa học Tsukuba của Nhật Bản; công viên phần mềm Bangalore của Ấn Độ; khu công nghệ cao Trung Quan Thôn, Bắc Kinh, Trung Quốc; khu công nghệ cao ở một số nước khác [20]. Hoàng Xuân Long (2007), Một số vấn đề trong phát triển khu công nghệ cao hiện nay, [28], là một nghiên cứu đã xác định một số vấn đề trong phát triển các khu công nghệ cao ở Việt Nam.
Trước hết, đó là việc phát triển các khu công nghệ cao chịu sự chi phối lớn bởi tính cục bộ địa phương, chưa định lượng được tác động lan tỏa sang địa phương khác cũng như ảnh hưởng ngược lại của khu công nghệ cao ở các khu vực lân cận; khiến cho nguồn lực vốn có hạn của đất nước bị phân tán; làm 10 cho công tác quy hoạch ở tầm quốc gia gặp nhiều khó khăn,. Thứ hai, quản lý khu công nghệ cao còn nhiều lúng túng, thiếu ổn định và rõ ràng. Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc gia (2007), Tổng luận khoa học Chính sách phát triển công nghệ của một số nước, [40], trong giai đoạn toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực hiện nay, việc Việt Nam gia nhập WTO vào cuối năm 2006 chắc chắn đang và sẽ tạo thêm nhiều động lực phát triển và nhiều sự thay đổi ấn tượng cho nền kinh tế nước ta trong tương lai. Với sự đầu tư mạnh mẽ của nhiều nước có trình độ phát triển cao như Mỹ, Nhật Bản, EU vào phát triển kinh tế nước ta, các ngành công nghệ, trong đó, có nhiều ngành công nghệ cao đang đứng trước các cơ hội và điều kiện phát triển chưa từng có.
Việc tìm hiểu và nắm vững các bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng chính sách phát triển công nghệ và du nhập công nghệ của những quốc gia có tốc độ phát triển kinh tế cao trên thế giới và khu vực trong những thập kỷ gần đây có ý nghĩa quyết định đối với việc đưa nền kinh tế và công nghiệp nước ta trở thành bộ phận hữu cơ của thị trường khu vực và thế giới, cũng như đối với việc nâng cao vai trò của Việt Nam trên “vũ đài” chính trị và kinh tế quốc tế trong giai đoạn hiện tại cũng như tương lai [40]. Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc gia (2007), Tổng luận khoa học Phát triển nhân lực KH&CN ở các nước ASEAN, [41], trong nửa thế kỷ qua, tận dụng có hiệu quả những thành tựu vĩ đại của các làn sóng đổi mới công nghệ nảy sinh trong cuộc cách mạng KH&CN hiện đại đang diễn ra hiện nay, nhiều nước trên thế giới và trong khu vực đã có những bước tiến nhảy vọt về lượng và chất. Nhờ vậy, bước vào thế kỷ XXI, vị thế của các nước này trên bản đồ kinh tế thế giới đã có nhiều cải thiện đáng kể. Ngoài việc xác lập được một chính sách KH&CN quốc gia đúng đắn, với quyết tâm đầu tư cao cho công tác nghiên cứu và phát triển (R&D), một trong những bí quyết giành thắng lợi của những nước có mức độ phát triển kinh tế cao là tầm nhìn chiến lược trong đường lối và chính sách đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực KH&CN nói riêng.
Trên cơ sở đó, các nước ASEAN đều tập trung vào việc tăng cường lực lượng cán bộ KH&CN của mình thông qua một số biện pháp cơ bản như: Một là, các chương trình học bổng trong các ngành KH&CN từ cấp đại học trở lên cho các tài năng theo học tại các cơ sở đào tạo có uy tín ở các nước phát triển; 11 Hai là, chương trình kêu gọi các kiều dân là chuyên gia KH&CN trở về phục vụ phát triển đất nước; Ba là, khuyến khích học sinh theo học các ngành KH&CN cũng như đổi mới và tăng cường các chương trình giảng dạy KH&CN trong nhà trường. Đây là một trong số các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển hoạt động KH&CN, đổi mới sáng tạo cho các quốc gia, góp phần phát triển các lĩnh vực công nghệ cao cho phát triển kinh tế - xã hội quốc gia [41]. Phan Xuân Dũng (2008), Công nghệ tiên tiến và công nghệ cao với tiến trình công nghiệp hoá hiện đại hoá ở Việt Nam, [21]. Dựa trên cơ sở trình bày những vấn đề lý luận về công nghệ cao, công nghiệp công nghệ cao như: Nêu khái niệm công nghệ cao của các quốc gia khác như Pháp, Mỹ và nêu lên 3 đặc điểm của công nghệ cao theo tư liệu của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế của Hoa Kỳ (CSIS, 1998); Phân biệt công nghệ cao với công nghệ tiên tiến, công nghệ mới; Hệ thống các tiêu chí đánh giá, xác định ngành công nghệ cao của các tổ chức quốc tế và một số quốc gia; các đặc điểm của các ngành công nghiệp công nghệ cao.
Công trình đã trình bày một số vấn đề về thực tiễn phát triển công nghệ cao, ngành công nghiệp công nghệ cao: Một là, quá trình ứng dụng và phát triển công nghệ tiên tiến, công nghệ cao của một số nước và khu vực trên thế giới như Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Malayxia và một số khu công nghệ cao trên thế giới như thung lũng Silicon; khu Sophia Antipolis; thành phố khoa học Tsukuba của Nhật Bản; khu công nghệ cao Tân Trúc (Đài Loan) và một số khu công nghệ cao của Trung Quốc, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm để phát triển một số khu công nghệ cao ở Việt Nam. Hai là, thực trạng nghiên cứu và ứng dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ cao ở Việt Nam. Tác giả đã hệ thống lại một số văn bản pháp luật, chính sách về công nghệ tiên tiến, công nghệ cao ở Việt Nam; đưa ra một số nhận xét về hệ thống chính sách, văn bản pháp luật này. Công trình đã phân tích thực trạng nghiên cứu, phát triển công nghệ tiên tiến, công nghệ cao ở Việt Nam và rút ra một số nhận xét.