CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG NGHỆ VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO 1. Cơ sở lý luận về công nghệ 1.1 Định nghĩa về công nghệ Mặc dù từ “công nghệ” đã được sử dụng khá rộng rãi trên thế giới, song việc đưa ra một định nghĩa về công nghệ lại chưa có được sự thống nhất. Nguyên nhân là do số lượng các loại hình công nghệ ngày càng đa dạng, bên cạnh đó sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ đã làm thay đổi nhiều quan điểm cũ về công nghệ khiến việc đưa ra một định nghĩa thống nhất ngày càng khó khăn. Có thể kể đến một vài cách tiếp cận định nghĩa về công nghệ như sau: Theo R.Jones (1970) thì Công nghệ là cách thức để đạt được mục tiêu chuyển nguồn lực thành sản phẩm.Barason (1976) lại định nghĩa Công nghệ là tập hợp các kiến thức về một quy trình hoặc các kỹ thuật chế biến cần thiết để sản xuất ra các vật liệu và sản phẩm công nghiệp hoàn chỉnh.
Điểm chung của hai định nghĩa trên là đều nêu bật mục tiêu của công nghệ chính là chuyển đổi nguồn lực thành sản phẩm. Việc đưa ra được một định nghĩa khái quát được bản chất của công nghệ là rất cần thiết và các tổ chức quốc tế về Khoa học – công nghệ đã có nhiều cố gắng trong việc đưa ra một định nghĩa công nghệ có thể dung hòa các quan điểm đồng thời tạo thuận lợi cho việc phát triển và hòa nhập các quốc gia trong từng khu vực và trên phạm vi toàn cầu. Tiêu biểu trong đó có thể kể đến định nghĩa công nghệ do Ủy ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (Economic and Social Commission for Asia and the Pacific – ESCAP) đưa ra: Công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin. Nó bao gồm kiến thức, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hóa và cung cấp dịch vụ.
Định nghĩa công nghệ của ESCAP được coi là một bước ngoặt trong quan niệm về công nghệ. Theo định nghĩa này, không chỉ sản xuất vật chất mới dùng công nghệ, mà khái niệm công nghệ được mở rộng ra tất cả các lĩnh vực hoạt động khác trong xã hội như công nghệ thông tin, công nghệ ngân hàng, công nghệ du lịch, công nghệ văn phòng, v.v… Còn theo như định nghĩa được đưa ra bởi UNCTAD (1972) thì công nghệ là một đầu vào cần thiết cho sản xuất, và như vậy nó được mua và bán trên thị trường 11 như một hàng hóa và được thể hiện dưới một trong các dạng sau đây: tư liệu sản xuất, các sản phẩm trung gian, nhân lực có trình độ chuyên sâu, thông tin về khoa học kỹ thuật và thương mại. Theo Khoản 2, Điều 3, Luật Khoa học và Công nghệ của Việt Nam quy định “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm” (Quốc hội Việt Nam 2013, tr. Trong định nghĩa này, công nghệ bao gồm cả kiến thức và công cụ, phương tiện với mục đích là biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm.
Từ các định nghĩa trên đây, có thể nhận thấy rằng, xét về mặt bản chất thì các định nghĩa đều chỉ ra công nghệ là kiến thức cần có để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm. Trong số đó, một số định nghĩa coi công nghệ là kiến thức và chủ yếu phản ánh thực tiễn của các nước phát triển – nơi mà các giao dịch về công nghệ dưới dạng mua bán sáng chế, li-xăng sáng chế là phổ biến. Một số định nghĩa khác thì coi công nghệ như một dạng của kiến thức nhưng nhấn mạnh dạng thức cụ thể của công nghệ là vật mang kiến thức như máy móc, thiết bị, tài liệu, v.v…Với nội dung chi tiết, cụ thể như vậy, các định nghĩa này đã đáp ứng được những vấn đề liên quan đến quá trình công nghiệp hóa của các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam và định nghĩa của Luật Khoa học và Công nghệ của Việt Nam cũng đi theo khuynh hướng này. Qua các định nghĩa về công nghệ trên đây, tác giả nhận thấy rằng định nghĩa về công nghệ trong Luật Khoa học và Công Nghệ Việt Nam là một định nghĩa phản ánh đầy đủ những yếu tố thành phần của công nghệ, phù hợp với điều kiện cụ thể của nền kinh tế Việt Nam và định hướng nghiên cứu của luận văn.
Vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tác giả xin phép được sử dụng định nghĩa về công nghệ trong Luật Khoa học và Công nghệ Việt Nam, theo đó “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm” (Quốc hội Việt Nam 2013, tr.2 Phân loại công nghệ Hiện nay việc phân loại công nghệ đã trở lên khó khăn hơn khi số lượng các loại hình công nghệ mới gia tăng với tốc độ nhanh chóng. Dựa theo giáo trình Quản 12 trị công nghệ (Học viện Bưu chính viễn thông, 2006) thì công nghệ được phân loại theo các tiêu chí như sau: Theo tích chất: Có thể kể đến các loại như công nghệ sản xuất, công nghệ thông tin, công nghệ giáo dục – đào tạo. Theo ngành nghề: Có các loại công nghệ công nghiệp, công nghệ nông nghiệp, công nghệ sản xuất, công nghệ vật liệu, công nghệ dịch vụ. Theo sản phẩm: Tùy thuộc vào loại sản phẩm có các loại công nghệ tương ứng như công nghệ thép, công nghệ ô tô, công nghệ máy tính, v.v… Theo trình độ công nghệ: Căn cứ mức độ phức tạp của các thành phần công nghệ có thể chia thành công nghệ truyền thống, công nghệ tiên tiến.
Trong đó, công nghệ truyền thống thường là thủ công, có tính đặc trưng về kỹ thuật với năng suất không cao và chất lượng không đồng đều. Các công nghệ truyền thống có ba đặc trưng cơ bản: tính cộng đồng, tính ổn định và tính lan truyền. Trong khi đó, các công nghệ tiên tiến là thành quả khoa học hiện đại, những công nghệ này có năng suất cao, chất lượng tốt và đồng đều, giá thành sản phẩm cạnh tranh. Theo góc độ môi trường: Bao gồm công nghệ ô nhiễm và công nghệ sạch.
Công nghệ sạch là công nghệ mà quá trình sản xuất tuân theo điều kiện giảm ảnh hưởng ô nhiễm đến môi trường, sử dụng các nguồn nguyên liệu thô và năng lượng với chi phí hợp lý và thân thiện môi trường.3 Vai trò của công nghệ 1. Vai trò của công nghệ tới phát triển kinh tế - xã hội Công nghệ là một bộ phận nguồn lực không thể thiếu trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Theo phân tích của Ngân hàng thế giới (WB, 2008) ở 38 quốc gia và khu vực thì tiến bộ công nghệ đóng góp khoảng 50% vào tăng trưởng kinh tế ở các nước phát triển, còn ở Việt Nam thì tỷ lệ đóng góp này là 23%. Sự phát triển của công nghệ với sự ra đời của nhiều loại hình công nghệ mới đã làm chuyển đổi nền kinh tế phát triển từ chiều rộng sang chiều sâu, theo đó tăng trưởng kinh tế đạt được dựa trên việc nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất.
Với vai trò này, công nghệ là phương tiện để chuyển nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế tri thức. Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ không chỉ đẩy nhanh tốc độ phát triển của ngành mà còn làm cho sự phân bổ nguồn lực trong xã hội có nhiều sự thay đổi, 13 dẫn đến sự xuất hiện của nhiều ngành nghề, lĩnh vực kinh tế mới làm thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực. Cụ thể, cơ cấu kinh tế trong nội bộ mỗi ngành biến đổi theo hướng ngày càng mở rộng quy mô sản xuất ở những ngành có hàm lượng công nghệ cao, lao động tri thức ngày càng chiếm tỷ trọng lớn. Đồng thời, công nghệ cho phép mọi người có nhiều sự lựa chọn hơn về sản phẩm và dịch vụ, cải thiện chất lượng cuộc sống (M.
Và mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và các yếu tố công nghệ của Việt Nam đã được mô tả theo phương trình hồi quy tại nghiên cứu của Tăng Văn Khiên (2008), nghiên cứu chỉ ra rằng trong giai đoạn 2001 - 2005 khi chỉ số năng lực công nghệ tăng 1% thì chỉ số phát triển kinh tế sẽ tăng thêm 1,23% cho thấy rằng công nghệ là một nhân tố ảnh hưởng tích cực tới sự phát triển kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 cùng với xu thế hội nhập quốc tế như hiện nay thì công nghệ là yếu tố có tác động to lớn đến việc tăng trưởng và phát triển kinh tế của Việt Nam. Công nghệ chính là chìa khóa cho tiến trình hội nhập thành công và rút ngắn khoảng cách giữa Việt Nam và các quốc gia phát triển trên thế giới. Vai trò của công nghệ đối với doanh nghiệp Công nghệ tạo ra giá trị gia tăng cho doanh nghiệp và việc áp dụng công nghệ là yếu tố quan trọng, không thể thiếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường việc áp dụng công nghệ đã tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh, từ các yếu tố sản xuất như tư liệu sản xuất ngày càng hiện đại, lao động với trình độ cao và đồng bộ dẫn đến năng lực sản xuất ngày càng được nâng cao. Vì thế việc ứng dụng công nghệ trong doanh nghiệp sẽ tạo ra giá trị gia tăng cao hơn cho doanh nghiệp cũng như đem lại sự thỏa dụng cao hơn cho khách hàng. Ngoài ra, công nghệ còn ảnh hưởng tới năng lực của doanh nghiệp. Để xác định ảnh hưởng của công nghệ đến năng lực của doanh nghiệp, Abernathy và Clark (1985) chia năng lực của doanh nghiệp ra thành năng lực sản xuất và năng lực thị trường.
Về mặt sản xuất, công nghệ có thể làm thay đổi thiết kế sản phẩm, hệ thống thiết bị, vật liệu, kỹ năng và kiến thức của người lao động. Còn về mặt thị trường, công nghệ có thể làm thay đổi thái độ, hành vi khách hàng, kênh phân phối, phương 14 thức truyền thông, v.v…Điều này có nghĩa là những lĩnh vực hoạt động trong chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp có thể bị ảnh hưởng.