CHƯƠNG I. TỔNG QUAN PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ VÀ DU LỊCH HUYỆN TRÙNG KHÁNH 1. Khái niệm và thuật ngữ Đô thị là khu tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy kinh tế - xã hội của quốc gia, vùng lãnh thổ, một địa phương bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị trấn. (Luật Quy hoạch) Tuy nhiên, tác giả Trương Quang Thao đưa ra khái niệm Đô thị trong sách Đô thị học (2003) làm rõ hơn đặc điểm nhận dạng rất đặc trưng của đô thị “Đô thị đồng thời là: - Một không gian vật thể: tức là một tập hợp các công trình xây dựng kế tục và kế cận, được gọi là môi trường xây dựng, được phục vụ bởi các mạng lưới của kỹ thuật hạ tầng, được bố trí tại một địa điểm nhất định của môi trường thiên nhiên ít nhiều đã bị khai thác cho các mục tiêu kinh tế- xã hội con người.
- Một không gian kinh tế mạnh, túc là một tập hợp các cơ sở sản xuất ở cả 3 khu vực kinh tế chính quy và phi chính quy. - Một không gian văn hoá xã hội có ưu thế về đời sống vật chất, tinh thần và tâm linh của cộng đồng người liên kết vói nhau bằng một lối sống chung để làm cho quần cư của họ thành nơi trốn”. Đô thị bền vững là một đô thị được phát triển dựa trên cơ sở bền vững của các yếu tố chính trị, văn hoá, xã hội môi trường và kinh tế. dân cư hiện tại và những thế hệ tương lai đều có được cuộc sống hạnh phúc, đầy đủ phúc lợi và các dịch vụ công cộng cơ bản, có sức khoẻ, đảm bảo an toàn, giáo dục và đối xử công bằng.
Được tận hưởng bản sắc văn hoá dân tộc, lịch sử, tôn giáo, tín ngưỡng, có quyền chăm lo, bảo vệ cảnh quan và môi trường. (Nguyễn Tố Lăng, 2014) Nhiều nhà nghiên cứu cũng đưa ra các định nghĩa khác nhau về phát triển đô thị bền vững, (Oke và Stewart, 2012; Erell et al., 2015), nhưng nguyên tắc 5 bao trùm vẫn là: tái tạo hệ sinh thái nhằm bù đắp những tác động của con người lên môi trường tự nhiên cũng như cơ sở hạ tầng, đồng thời đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai (Brundtland, 1987; Riera Pérez et al. Thiết kế đô thị xanh, tích hợp xây dựng bền vững và đô thị bền vững đang là xu thế phát triển với các cơ sở hạ tầng thân thiện với môi trường và các không gian mở gần gũi với tự nhiên ((Kilbert, 2013; Bozovic và cộng sự, 2017; Davoudi và Stuzaker, 2017; Opoku, 2019). Du lịch bền vững Thuật ngữ du lịch bền vững (Sustainable Tourism) xuất hiện vào cuối những năm 1980 và đã gây được sự chú ý của mọi người trong cả lĩnh vực học thuật và chính trị (MC Hall, 2011).
Có rất nhiều cách định nghĩa khái niệm du lịch bền vững đã được các nhà nghiên cứu đề cập đến tuy nhiên, theo Hội đồng Du lịch và Lữ hành quốc tế (WTTC): “Du lịch bền vững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch mà vẫn bảo đảm những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch tương lai”. Theo đó, chủ trương du lịch và phát triển du lịch không tác động xấu đến môi trường nhân văn, môi trường sống của con người. Tại Diễn đàn tiếng Đức về Môi trường và Phát triển (1999) đã đưa ra khái niệm du lịch bền vững: “Du lịch bền vững phải đáp ứng yêu cầu xã hội, văn hóa, sinh thái và kinh tế. Theo UNWTO (2014), du lịch bền vững cần chú ý đến ba vấn đề: 1) Về môi trường: Sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên môi trường là yếu tố chính trong phát triển du lịch, duy trì các quy trình sinh thái thiết yếu và giúp bảo tồn di sản thiên nhiên và đa dạng sinh học; 2) Về xã hội và văn hóa: Tôn trọng tính chân thực văn hóa xã hội của các cộng đồng địa phương, bảo tồn di sản văn hóa được xây dựng và sống động và các giá trị truyền thống, góp phần tạo sự hiểu biết và khoan dung giữa các nền văn hóa; 3) Về kinh tế: Đảm bảo các hoạt động kinh tế khả thi, lâu dài, mang lại các lợi ích kinh tế xã hội cho tất cả các bên liên quan được phân phối công bằng, bao gồm việc làm ổn định và các cơ hội kiếm thu nhập và các dịch vụ xã hội cho các cộng đồng địa phương và góp phần xoá đói giảm nghèo.
Luật Du lịch Việt Nam (2005) cũng đề cập đến nội dung du lịch bền vững: “Du lịch bền vững là 6 sự phát triển du lịch đáp ứng được các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch của tương lai”. Từ những khái niệm nêu trên, ta có thể hiểu du lịch bền vững là sự du lịch có sự quan tâm đến việc bảo tồn các giá trị của tài nguyên du lịch đồng thời giảm thiểu đến mức thấp nhất những tác hại xấu đến môi trường, kinh tế, văn hóa - xã hội nhằm phục vụ nhu cầu hiện tại của du khách và điểm du lịch mà không làm phương hại đến nhu cầu của tương lai. Tài nguyên du lịch Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cẩu du lịch; là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch (Pháp lệnh Du lịch Việt Nam, 1999). Tài nguyên du lịch bao gồm các yếu tố liên quan đến các điều kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử - văn hóa, kinh tế - xã hội vốn có trong tự nhiên hoặc do con người tạo dựng nên.
Các yếu tố này luôn luôn tồn tại và gắn liền với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội đặc thù của mỗi địa phương, mỗi quốc gia, tạo nên những điểm đặc sắc cho mỗi địa phương, mỗi quốc gia đó. Khi các yếu tố này được phát hiện, được khai thác và sử dụug cho mục đích phát triển du lịch thì có áng sẽ trở thành tài nguyên du lịch. Tích hợp (tiếng Anh: Integration) có nguồn gốc từ tiếng La tinh: integration với nghĩa: xác lập lại cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất trên cơ sở những bộ phận riêng lẻ. Theo từ điển Anh - Anh (Oxford Advanced Learner's Dictionany), từ integrate có nghĩa là kết hợp những phần, những bộ phận với nhau trong một tổng thể.
Những phần, những bộ phận này có thể khác nhau nhưng thích hợp với nhau. Theo Từ điển Bách khoa Khoa học Giáo dục của Cộng hòa Liên bang Đức (Enzyklopadie Erziehungswissienscheft, Bd.2, Stuttgart 1984), nghĩa chung của từ integration có hai khía cạnh: - Quá trình xác lập lại cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất từ những cái riêng lẻ. 7 - Trạng thái mà trong đó có cái chung, cái toàn thể được tạo ra từ những cái riêng lẻ. Tích hợp có nghĩa là sự hợp nhất, sự kết hợp, sự hòa nhập.
Tích hợp cũng có thể được hiểu là sự lồng ghép các nội dung cần thiết vào những nội dung vốn có của một vấn đề. Tích hợp phát triển đô thị và du lịch bền vững: là thuật ngữ đề xuất của nghiên cứu, hàm chứa hai nội dung: phát triển đô thị bền vững và phát triển du lịch bền vững được lồng ghép hài hoà tạo thành một thể thống nhất. Tổng quan huyện Trùng Khánh 1. Vị trí địa lý Formatted: Font: (Default) Times New Roman 8 Hình 1.
Bản đồ hành chính huyện Trùng Khánh Formatted: Normal Nguồn: Báo cáo UBND huyện Trùng Khánh năm 2017 Trùng Khánh là một huyện biên giới, nằm ở phía đông bắc tỉnh Cao Bằng, cách thành phố Cao Bằng 58 km về phía tây nam, cách Cửa khẩu Trà Lĩnh khoảng chừng 28 km về phía tây - bắc và cách Thành phố TP.HN 310 km về phía tây nam. Phía Đông giáp huyện Hạ Lang và Trung Quốc. Phía Tây giáp huyện Hà Quảng và huyện Hòa An. Phía Nam giáp huyện Quảng Hòa và huyện Hạ Lang.
Phía Bắc giáp Trung Quốc. Huyện có 21 đơn vị chức năng hành chính cấp xã thường trực, gồm có 2 thị trấn: Trùng Khánh ( huyện lỵ, nằm trên Quốc lộ 4 và đường tỉnh 206), Trà Lĩnh và 19 xã : Cao Chương, Cao Thăng, Chí Viễn, Đàm Thủy, Đình Phong, Đoài Dương, Đức Hồng, Khâm Thành, Lăng Hiếu, Ngọc Côn, Ngọc Khê, Phong Châu, Phong Nặm, Quang Hán, Quang Trung, Quang Vinh, Tri Phương, Trung 9 Phúc, Xuân Nội. Trong đó, có 8 xã thị trấn tiếp giáp với Trung Quốc với 2 cửa khẩu : Trà Lĩnh, Pò Peo và nhiều đường mòn dân sinh. Đặc điểm tự nhiên Formatted: Font: (Default) Times New Roman 2.
Bản đồ nền địa hình tại khu vực nghiên cứu Formatted: Indent: Left: 0.29", No bullets or numbering Nguồn: Trịnh Ngọc Như Ánh (2022) Formatted: None, Indent: Left: 3. Địa hình Hình 1. Bản đồ nền địa hình tại khu vực nghiên cứu Formatted: None Nguồn: Trịnh Ngọc Như Ánh (2022) Huyện Trùng Khánh có đặc điểm là vùng núi vừa, số ít trong đó vùng núi đá có độ dốc lớn. Độ cao trung bình của huyện từ 500m đến 800m, thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, có ba dạng địa hình đó là: địa hình núi đá vôi dốc có độ cao từ 700m đến 850m với nhiều hang động xen kẽ các thung lũng; địa hình dạng đồi tập trung ở các xã phía Đông Nam của huyện có độ cao trung bình 500m đến 800m; địa hình thung lũng là những dải đất tương đối bằng phẳng chạy dọc theo hai hệ thống sông Quây Sơn và sông Bắc Vọng, đây là khu vực tập trung sản xuất nông, lâm nghiệp chính của huyện.
Khí hậu Formatted: Level 1 Trùng Khánh chịu ảnh hưởng của vùng nhiệt đới gió mùa và khí hậu vùng núi phía Bắc và được chia rõ rệt thành hai mùa là mùa mưa từ tháng 5 đến 10 tháng 9 và mùa khô từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau. Nền nhiệt độ trung bình tương đối ôn hòa với nhiệt độ cao nhất tuyệt đối là 36,3℃ vàhiệt độ thấp nhất tuyệt đối là -3℃. Lượng mưa trung bình năm 1.666,7 mm với số ngày mưa trung bình năm là 147,6 ngày. Độ ẩm bình quân năm ở Trùng Khánh trunh bình là 81% mm.
Thuỷ hải văn Formatted: Level 1 Huyện Trùng Khánh bị chi phối bởi địa hình thấp dần theo hướng Tây Bắc - Đông Nam nên các dòng chảy đều theo hướng từ Tây Bắc xuống Đông Nam.