mở đầu , kết luận , danh mục tài liệu tham khảo , phụ lục , nội dung của luận án bao gồm 5 chương: 6 Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Chƣơng 2: Những lý luận cơ b ản về phát triển dị ch vụ xã hội cho ngư ời lao động tại các khu công nghiệp. Chƣơng 3: Thực trạng về phát triển dịch vụ xã hội cho ngư ời lao động tại các khu công nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua. Chƣơng 4: Đánh giá sự phát triển dị ch vụ xã hội cho ngư ời lao động tại các khu công nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
Chƣơng 5: Đị nh hướng và gi ải pháp phát triển dịch vụ xã hội cho người lao động tại các khu công nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025. 7 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Nghiên cứu ngoài nƣớc Có rất nhiều khái niệm khác nhau về dịch vụ xã hội. Theo quan điểm của Ủy ban dịch vụ xã hội California “dịch vụ xã hội là sự phục vụ, tài trợ và bảo vệ trẻ em và người lớn yếu thế để củng cố và bảo vệ gia đình, khuyến khích trách nhiệm cá nhân và tăng cường sự độc lập”; Ủy ban Nam Gloucesstershire cho rằng “dịch vụ xã hội là các hoạt động để giúp đỡ người lao động, các hoạt động về chăm sóc y tế, hỗ trợ và chăm sóc hàng ngày đối với người yếu thế tại các gia đình”.
Ngoài ra còn có những quan điểm cho rằng dịch vụ xã hội bao gồm những dịch vụ chăm sóc trẻ em, nhà ở xã hội, hỗ trợ tìm việc làm, phòng ngừa bên lề xã hội, các dịch vụ phục vụ gia đình khi khó khăn. Dịch vụ xã hội liên quan đến các dịch vụ và hàng hóa công cộng. Nó là khái niệm mở, phụ thuộc vào yếu tố lịch sử, văn hóa, xã hội và kinh tế của các quốc gia, khu vực. Như vậy, với các quan điểm khác nhau, các nghiên cứu về dịch vụ xã hội có thể được liệt kê theo các nhóm sau: Nhóm 1: Những nghiên cứu về dịch vụ xã hội dưới góc độ kinh tế học dị ch vụ.
Mehrotra, Vandemoortee và Delamonica (2000) khẳng định dịch vụ xã hội giúp con người có được sự phát triển vững chắc. Theo quan điểm này, các hợp phần của dịch vụ xã hội như chăm sóc y tế (chăm sóc sức khỏe đối với bà mẹ trong quá trình sinh sản; chăm sóc và ngăn chặn suy dinh dưỡng trẻ em), giáo dục cơ bản (tiểu học), nước sạch và nhà ở thỏa đáng sẽ giúp con người có được cơ hội thoát nghèo và hướng tới một cuộc sống tốt đẹp hơn. Hencoski và Hansell (2012) cho rằng các hợp phần của dịch vụ xã hội như chăm sóc và phúc lợi đối với trẻ nhỏ, cung cấp cơ hội phát triển về việc làm cho thế hệ trẻ, đảm bảo thu nhập và thực phẩm, trợ giúp người già và các đối tượng bị khuyết tật, nhà ở xã hội và các dịch vụ nhằm giảm thiểu tình trạng vô gia cư là những thứ cần được chính phủ quan tâm hơn nữa trong điều kiện phát triển kinh tế xã hội toàn cầu ngày nay. Nghiên cứu về lợi ích chung của dịch vụ xã hội trong cộng đồng Châu Âu, Richard Polacek (2011) chỉ ra 4 hợp phần thuộc dịch vụ xã hội được quan tâm trong cộng đồng các quốc gia thành viên: (i) chăm sóc y tế dài hạn, (ii) y tế và giáo dục cho trẻ nhỏ, (iii) các dịch vụ việc làm và (iv) nhà ở xã hội [113].
Český Těšín (2011) cho rằng đối với các nước phát triển, dịch vụ xã hội cơ bản không chỉ là 8 những hỗ trợ về chăm sóc y tế, đảm bảo lương thực, nhà ở cho các nhóm đối tượng,… mà còn là các hỗ về nuôi dưỡng trẻ nhỏ, tiếp cận thông tin, giao tiếp với bên ngoài để đảm bảo quyền và lợi ích của con người. Dịch vụ xã hội do đó bao gồm các sản phẩm hàng hóa công cộng và thậm chí cả hàng hóa tư nhân (tùy theo nhu cầu của người sử dụng). Santosh Mehrotra, Jan Vandemoortele và Enrique Delamonica (2000) đã nêu ra 4 nguyên nhân mà nhà nước phải có trách nhiệm trong việc cung ứng dịch vụ xã hội cho người dân: (i) Trên phương diện đạo đức, nhà nước phải đảm bảo cho người dân quyền tiếp cận tới các chương trình chăm sóc y tế, và giáo dục cơ bản; (ii) Việc tiếp cận tới các chăm sóc y tế, giáo dục cơ bản giúp cho người dân nâng cao sức khỏe, năng suất lao động, do đó gia tăng thu nhập và giảm nghèo. Nói cách khác cung ứng các dịch vụ xã hội như y tế, giáo dục là công cụ hữu dụng mà các chính phủ thực hiện để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế; (iii) Sự đồng thuận của các tổ chức quốc tế về vai trò và trách nhiệm của nhà nước trong việc ung ứng dịch vụ xã hội thể hiện ở các hội nghị về Xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt giới năm 1979, Hiệp ước về các quyền liên quan đến kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966, tuyên bố về Quyền được phát triển năm 1986 và Hiệp ước về Quyền của Trẻ em năm 1989; (iv) Trách nhiệm của nhà nước đối với cung ứng dịch vụ xã hội còn có yếu tố lịch sử [108].
Tuy nhiên, các nghiên cứu c ủa J.Stigliz (1995) và Wallis J. & Dollery B (1999) đã chỉ ra những hạn chế của các mô hình mà nhà nước can thiệp vào việc cung cấp dịch vụ xã hội thông qua cung ứng hàng hóa công cộng. Nhóm 2: Những nghiên cứu về các loại hình dịch vụ và phương thức tổ chức cung ứng. Dưới góc độ này các nghiên cứu của Johnstone Nick and Wood Libby (2001): "Private Firms and Public Water: Realising Social and Environmental Objectives in Developing Countries" "Các công ty tư nhân và nguồn nước công: Nhận diện mục tiêu về môi trường và xã hội các nước đang phát triển", của Seungho Lee (2003): "Expansion of the Private Sector in the Shanghai Water Sector" "Mở rộng khu vực tư trong ngành nước ở Thượng Hải",.
Lin Jing (1999): "Social Transformation and Private Education in China" "Những thay đổi về mặt giáo dục và giáo dục tư nhân ở Trung Quốc", của Mok H.H (1998): "Merging of the Public and Private Boundary: Education and the Market place in China" "Hợp nhất ranh giới giữa khu vực tư và công: Giáo dục và thị trường ở Trung Quốc";… đã tập trung vào các loại hình dịch vụ như y tế, giáo dục, văn hóa, giải trí cá nhân,… Các nghiên cứu này cũng tập trung làm rõ sự chuyển đổi trong các mô hì nh t ổ chức cung ứng dịch vụ. Từ chỗ nhà nước trực tiếp cung ứng dịch 9 vụ xã hội sang m ở rộng cho tư nhân tham gia ở các mức độ khác nhau ở Trung quốc cũng như các nước khác trên thế giới trong quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế. Richard Polacek (2011) quan niệm rằng cả khu vực tư nhân và khu vực công đều tham dự vào quá trình cung ứng những dịch vụ xã hội cơ bản, còn Baorong Guo (2004) cho rằng việc cung ứng dịch vụ xã hội được đảm nhận bởi các tổ chức hoạt động vì lợi nhuận và không vì lợi nhuận. Hodgkinson (1996) và Ryan (1999) cho rằng, sự thống trị trong việc cung ứng các dịch vụ xã hội cơ bản của các tổ chức không vì mục tiêu lợi nhuận có xu hướng giảm dần và các tổ chức hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận không ngừng gia tăng sự tham dự vào quá trình cung ứng các sản phẩm này.
Lý giải của Salamon (1999) về sự thay đổi này là bởi sự thay đổi trong nhận thức về bản chất của dịch vụ xã hội cơ bản. Corbin (1999) cho rằng mục đích của việc cung ứng các dịch vụ xã hội cơ bản là nhằm đảm bảo mức chất lượng cuộc sống tối thiểu, tạo điều kiện nâng cao các phúc lợi xã hội cho người dân. Tuy nhiên trong xã hội có nhiều nhóm người khác nhau, khả năng đạt được mức chất lượng cuộc sống tối thiểu của họ cũng không đồng nhất, mức độ phúc lợi xã hội của các cá nhân theo các nhóm thu nhập do đó cũng khác nhau. Việc cung ứng các dịch vụ cung ứng cho những nhóm đối tượng do đó cũng khác nhau bởi các bên tham gia.
Các tổ chức không vì mục tiêu lợi nhuận có vai trò trong việc cung ứng các dịch vụ xã hội cơ bản cho người nghèo và dựa chủ yếu vào nguồn lực từ phía chính phủ (Grønbjerg, 2001); các tổ chức vì mục tiêu lợi nhuận tiến hành cung ứng các dịch vụ như chăm sóc người già, trợ giúp người lao động tiếp cận tới thị trường lao động một cách tối ưu,… cho nhóm đối tượng còn lại. Nói cách khác, các tổ chức với các mục tiêu hoạt động khác nhau sẽ chia sẻ các hoạt động trong cung ứng dịch vụ (Richard Polacek, 2011). Nhóm 3: Những nghiên cứu về vai trò nhà nước và các đối tác xã hội trong việc cung cấp dịch vụ. Các nghiên cứu của Marian F.Fatout (1995) với tác phẩm “Task Groups in the Social Services”; Prof.
Jorens (2007) “Social services of general interests”; Peter Davidson (2002) “Employment Assistance for Long-term Unemployed People: Time for a Rethink”,… nhấn mạnh rằng dịch vụ xã hội là loại hình dịch vụ mang lại lợi ích chung cho toàn xã hội. Nó vừa là một loại hàng hóa tư nhân cũng vừa là loại hình của hàng hóa công cộng. Các bên tham gia vào loại hình dịch vụ này đều hưởng lợi. Chính vì thế, vai trò của Nhà nước trong việc cung cấp, điều hành và phân phối loại hình dịch vụ này không chỉ phụ thuộc vào năng lực Quản lý điều hành mà còn phụ thuộc lớn vào năng lực tài chính của ngân 10 sách quốc gia.
Thông thường ở các nước phát triển, các dịch vụ xã hội về y tế, sức khỏe đều do ngân sách nhà nước chi trả, người dân chỉ chi trả những khoản chi phí phục vụ cho các chữa trị chuyên biệt, nhưng những chữa trị chuyên biệt này lại được hoàn trả thông qua “người chi trả thứ ba”; các dịch vụ về hỗ trợ việc làm, bảo hiểm xã hội thì nhà nước, người Quản lý lao động và người lao động cùng đóng góp chi trả, trong đó nhà nước là người chi trả chủ yếu.