Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sự bùng nổ của mạng Internet và công nghệ số đã thúc đẩy thương mại điện tử phát triển nhanh chóng, làm thay đổi căn bản các phương thức giao dịch truyền thống trong nền kinh tế. Xu hướng chuyển dịch từ thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt sang các phương thức thanh toán điện tử không dùng tiền mặt đang trở thành một tiến trình tất yếu tại nhiều quốc gia. Tại Việt Nam, sự gia tăng nhanh của tỷ lệ người dân tiếp cận Internet (chiếm hơn 40% trong tổng số hơn 93 triệu dân, với 58% từng tham gia mua sắm trực tuyến thông qua điện thoại thông minh) đã tạo tiền đề quan trọng cho sự hình thành và mở rộng các dịch vụ trung gian thanh toán số. Trước bối cảnh đó, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) đã triển khai ứng dụng ví điện tử và cổng thanh toán VNPT Pay nhằm đa dạng hóa hệ sinh thái dịch vụ, đồng thời góp phần thúc đẩy chủ trương thanh toán không dùng tiền mặt của Chính phủ.

Tại địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, Trung tâm Kinh doanh VNPT Quảng Nam – Phòng bán hàng Điện Bàn đã và đang triển khai đưa dịch vụ VNPT Pay tiếp cận khách hàng nhằm gia tăng tiện ích giao dịch và tiết kiệm thời gian, chi phí đi lại cho người tiêu dùng. Tuy nhiên, việc phát triển dịch vụ thanh toán điện tử tại địa phương vẫn gặp phải nhiều rào cản từ thói quen sử dụng tiền mặt lâu đời của người dân, tâm lý e ngại rủi ro bảo mật và sự cạnh tranh gay gắt từ các đơn vị trung gian thanh toán khác. Xuất phát từ bối cảnh thực tiễn này, đề tài "Phát triển dịch vụ thanh toán điện tử VNPT Pay tại Phòng bán hàng Điện Bàn – Trung tâm kinh doanh VNPT Quảng Nam" đã được thực hiện.

Mục tiêu chung của nghiên cứu là đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của Phòng bán hàng Điện Bàn, trọng tâm là dịch vụ thanh toán điện tử VNPT Pay trong giai đoạn 2016–2019, từ đó phân tích các mặt hạn chế và đề xuất hệ thống giải pháp nhằm nâng cao tỷ lệ sử dụng dịch vụ, đáp ứng nhu cầu thanh toán của khách hàng.

Mục tiêu cụ thể và nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định theo ba nội dung:

  1. Hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến thanh toán điện tử và tình hình thanh toán qua ví điện tử tại Việt Nam.
  2. Nghiên cứu thực trạng ứng dụng dịch vụ VNPT Pay trong thanh toán tại Phòng bán hàng Điện Bàn; phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ của khách hàng; chỉ ra các thành tựu đạt được và những mặt tồn tại, hạn chế cần giải quyết.
  3. Đề xuất các giải pháp thúc đẩy việc ứng dụng VNPT Pay trong giao dịch nhằm phát triển dịch vụ và nâng cao hiệu quả kinh doanh của Phòng bán hàng Điện Bàn.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động phát triển sử dụng dịch vụ thanh toán điện tử với VNPT Pay tại Phòng bán hàng Điện Bàn – Trung tâm Kinh doanh VNPT Quảng Nam.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại Phòng bán hàng VNPT Điện Bàn, địa chỉ tại số 154 Mẹ Thứ, khối phố 7, phường Vĩnh Điện, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được thực hiện từ ngày 16/09/2019 đến ngày 21/12/2019; các số liệu thống kê hoạt động kinh doanh được tổng hợp trong giai đoạn 2016–2019.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của đề tài dựa trên các khái niệm nền tảng về thanh toán điện tử trong môi trường thương mại điện tử. Tác giả trích dẫn định nghĩa của Bộ Thương mại: thanh toán điện tử theo nghĩa rộng là việc thanh toán tiền thông qua các thông điệp điện tử thay cho trao tay tiền mặt; theo nghĩa hẹp là việc trả tiền và nhận tiền hàng cho hàng hóa, dịch vụ được mua bán trên Internet. Bên cạnh đó, nghiên cứu tham chiếu các quan điểm học thuật quốc tế như Kaur và Pathak (2015) về sự trao đổi thông tin tiền tệ qua phương tiện điện tử; Garadahew Warku (2010) về các đặc tính của thanh toán điện tử (tính độc lập, ẩn danh, di động, bảo mật, thuận tiện, chi phí giao dịch và khả năng truy xuất nguồn gốc); Hord (2005) về tính tiện lợi và khả năng cắt giảm chi phí giấy tờ, bưu chính cho doanh nghiệp; Appiah và Agyemang (2006) về việc tiết kiệm thời gian giao dịch cho người tiêu dùng.

Hệ thống phân loại phương thức thanh toán điện tử trong văn bản bao gồm: thanh toán bằng thẻ (thẻ ghi nợ Debit, thẻ tín dụng Credit, thẻ rút tiền mặt Cash card), thanh toán qua cổng thanh toán, thanh toán qua ví điện tử, thanh toán bằng thiết bị thông minh (Mobile Banking, mã QR), và dịch vụ ngân hàng trực tuyến Internet Banking. Khái niệm ví điện tử được làm rõ dưới hai hình thức: ví điện tử cá nhân (gắn liền với một số điện thoại di động) và ví điện tử doanh nghiệp (hỗ trợ tích hợp cổng thanh toán trực tuyến và quản lý dòng tiền bán hàng).

Về cơ sở pháp lý, nghiên cứu áp dụng các quy định mang tính nguyên tắc của pháp luật Việt Nam:

  • Quyết định số 06/2006/QĐ-TTg và Quyết định số 955/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ liên quan đến mô hình tổ chức của Tập đoàn VNPT.
  • Quyết định số 669/QĐ-TCCB/HĐQT ngày 06/12/2007 của Hội đồng quản trị Tập đoàn VNPT thành lập VNPT Quảng Nam; Quyết định số 73/QĐ-TTKDQNM-KHTH ngày 03/08/2015 thành lập Phòng bán hàng Điện Bàn.
  • Giấy phép hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cấp cho VNPT Pay (thuộc Tổng công ty Truyền thông VNPT-Media) ngày 06/07/2017.
  • Thông tư số 23/2019/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung Thông tư số 39/2014/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn về dịch vụ trung gian thanh toán, quy định chặt chẽ về việc xác thực danh tính khách hàng (CMND, Căn cước công dân, Hộ chiếu), các nguồn tiền nạp vào ví, các hành vi bị cấm (mở ví nặc danh, cho thuê, mượn ví), và quy định tổng hạn mức giao dịch ví điện tử cá nhân không quá 20 triệu đồng/ngày và 100 triệu đồng/tháng (đối với tổ chức là 100 triệu đồng/ngày và 500 triệu đồng/tháng).

Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả triển khai bao gồm:

  • Phương pháp thu thập số liệu: Thu thập số liệu thứ cấp từ các báo cáo định kỳ của Ngân hàng Nhà nước, Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số (Bộ Công Thương), Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), báo cáo khảo sát của PwC, Statista, Buzzmetrics, cùng các báo cáo thống kê hoạt động kinh doanh nội bộ của Phòng bán hàng Điện Bàn và VNPT Quảng Nam.
  • Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Tham vấn ý kiến của các cán bộ quản lý và nhân sự có kinh nghiệm thực tế trong lĩnh vực thanh toán điện tử và vận hành ví điện tử tại đơn vị.
  • Phương pháp phân tích thống kê và phân tích kinh tế: Sử dụng các kỹ thuật thống kê mô tả, phân tích cơ cấu, so sánh số liệu qua các năm để làm rõ biến động về lao động và hoạt động cung cấp dịch vụ của đơn vị trong kỳ nghiên cứu.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về hoạt động thanh toán điện tử

Chương này tập trung trình bày hệ thống lý luận chung và bức tranh thực tiễn về thanh toán điện tử và ví điện tử tại thị trường Việt Nam.

Về mặt lý luận, tác giả xác định bốn nguyên tắc cơ bản trong quan hệ thanh toán điện tử: người tham gia phải mở tài khoản tại tổ chức cung ứng dịch vụ; số tiền thanh toán phải dựa trên cơ sở giao dịch hàng hóa dịch vụ thực tế; người bán chịu trách nhiệm cung cấp hàng hóa đúng thỏa thuận; tổ chức trung gian thanh toán chỉ thực hiện lệnh trích tiền khi có ủy nhiệm của chủ tài khoản và có nghĩa vụ bảo mật chứng từ. Các tiêu chí đo lường sự phát triển dịch vụ thanh toán điện tử được phân tích gồm: tính an toàn, tính chính xác, khả năng giảm thiểu rủi ro, tốc độ giao dịch kịp thời và mức độ hài lòng của khách hàng. Tác giả cũng chỉ ra các nhân tố chủ quan (nhân tố con người, chiến lược của doanh nghiệp, môi trường marketing) và nhân tố khách quan (môi trường kinh tế - xã hội, hành lang pháp lý, trình độ khoa học - công nghệ và cơ sở hạ tầng thanh toán).

Về mặt số liệu thực tiễn thị trường, chương 1 phản ánh sự tăng trưởng nhanh nhưng còn nhiều điểm nghẽn của thanh toán điện tử Việt Nam qua các báo cáo vĩ mô:

  • Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước 6 tháng đầu năm 2019 cho thấy số lượng giao dịch điện tử tăng 30%, giá trị giao dịch tăng 18%. Tính đến thời điểm này có 78 tổ chức cung cấp dịch vụ thanh toán qua Internet và 45 tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán di động. Đến ngày 31/03/2019, giao dịch qua kênh Internet đạt hơn 101 triệu lượt (khoảng 4,5 triệu tỷ đồng, tăng 65,81% về số lượng và 13,46% về giá trị so với cùng kỳ 2018); giao dịch qua điện thoại di động đạt hơn 76 triệu lượt (giá trị hơn 924 nghìn tỷ đồng).
  • Báo cáo khảo sát 27 quốc gia của PwC chỉ ra Việt Nam có tốc độ tăng trưởng thanh toán di động nhanh nhất năm 2018 khi tỷ lệ người tiêu dùng sử dụng tăng từ 37% lên 61%.
  • Ngược lại, số liệu của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) chỉ ra tỷ trọng thanh toán điện tử trên tổng phương tiện thanh toán chỉ chiếm 11,49%; tiền mặt vẫn chiếm gần 90% chi tiêu, trong đó 99% các giao dịch dưới 100.000 đồng dùng tiền mặt. Báo cáo của Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số ghi nhận TMĐT năm 2018 đạt 8 tỷ USD nhưng 80% giao dịch vẫn sử dụng hình thức nhận hàng trả tiền mặt (COD), chỉ 3–5% sử dụng thanh toán điện tử.
  • Thị trường ví điện tử ghi nhận cạnh tranh gay gắt với biên lợi nhuận thấp (0,2% - 0,5%), nhiều đơn vị dẫn đầu chịu lỗ lũy kế lớn (MoMo ghi nhận lỗ lũy kế gần 1.000 tỷ đồng, ZaloPay báo lỗ 177 tỷ đồng vào cuối năm 2018). Tính đến cuối năm 2018, cả nước có hơn 4 triệu tài khoản ví điện tử liên kết ngân hàng với khoảng 60 triệu lượt giao dịch/năm, giá trị bình quân đạt 200.000 đồng/giao dịch.

Đối với dịch vụ VNPT Pay, chương 1 giới thiệu đây là sản phẩm do Tổng công ty Truyền thông (VNPT-Media) vận hành, kết nối với 34 ngân hàng, đáp ứng tiêu chuẩn an toàn của Ngân hàng Nhà nước và ứng dụng xác thực bằng khuôn mặt, mã QR. VNPT Pay phục vụ hệ sinh thái thanh toán các dịch vụ viễn thông nội bộ của VNPT (truyền hình MyTV, Internet cáp quang FiberVNN/ADSL, điện thoại cố định, nạp tiền điện thoại Top-up, mã thẻ di động, các dịch vụ giá trị gia tăng VAS như MyEnglish, MyHomework, LBA, Shopbrand), hóa đơn sinh hoạt và dịch vụ công. Lợi thế nền tảng của VNPT Pay gắn liền với độ phủ của VNPT trên toàn quốc: thỏa thuận chiến lược với 53 tỉnh/thành phố, giải pháp chính quyền điện tử tại 61/63 tỉnh/thành phố, phần mềm y tế cho hơn 50% cơ sở y tế cả nước, và hệ thống giáo dục cho hơn 12.000 trường học với gần 5 triệu hồ sơ học sinh.

Chương 2: Thực trạng về phát triển sử dụng dịch vụ thanh toán điện tử với VNPT Pay tại Trung tâm Kinh doanh VNPT Quảng Nam – Phòng bán hàng Điện Bàn

Chương này đi sâu khảo sát thực tế tại đơn vị thực tập. Tập đoàn VNPT hiện có gần 40.000 cán bộ công nhân viên, quản lý khoảng 30 triệu thuê bao di động, gần 10 triệu thuê bao cố định. VNPT Quảng Nam được thành lập từ năm 2007, trong khi Phòng bán hàng Điện Bàn được thành lập ngày 03/08/2015 tại số 154 Mẹ Thứ, phường Vĩnh Điện, thị xã Điện Bàn.

Về cơ cấu tổ chức, Phòng bán hàng Điện Bàn có 1 Giám đốc điều hành và 5 bộ phận trực thuộc: Kế toán, Quản lý khách hàng, Giao dịch viên, Nhân viên quản lý kênh và Nhân viên kinh doanh địa bàn. Tổng số lao động của đơn vị là 14 người.

Tiêu chí phân loại Phân nhóm Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
Giới tính Nam 4 28,6
Nữ 10 71,4
Trình độ học vấn Đại học và trên đại học 8 57,1
Cao đẳng 3 21,4
Sơ cấp 3 21,4
Tổng số lao động 14 100,0

Về tổ chức đoàn thể, đơn vị có 10 Đảng viên, 14 công đoàn viên và 7 đoàn viên thanh niên. Văn bản mô tả chi tiết chức năng, nhiệm vụ của từng vị trí công việc:

  • Giám đốc điều hành: Quản trị hoạt động kinh doanh, tối đa hóa doanh thu và lợi nhuận, duy trì chất lượng dịch vụ.
  • Kế toán viên: Hạch toán doanh thu, chi phí, theo dõi công nợ, quản lý quỹ và tính lương theo kết quả thu nợ.
  • Quản lý khách hàng: Quản lý nợ cước theo địa bàn, bám sát các tuyến thu hộ, giải quyết khiếu nại cước và truyền thông chính sách bán hàng.
  • Giao dịch viên: Trực bán hàng tại quầy giao dịch, hỗ trợ khách hàng đăng ký dịch vụ, giải quyết thắc mắc, quản lý kho ấn phẩm và thiết bị.
  • Nhân viên kinh doanh địa bàn: Trực tiếp bán hàng và chăm sóc thuê bao tại địa bàn dân cư được giao khoán.

Chương 2 phân tích các yếu tố tác động đến quyết định sử dụng VNPT Pay của khách hàng tại Điện Bàn theo 5 nhóm nhân tố chính:

  1. Nhận thức hữu ích: Khách hàng đánh giá cao việc không phải đến điểm giao dịch nộp tiền mặt, tích hợp tính năng tự động thanh toán (Auto Pay) cho các cước dịch vụ Internet, MyTV.
  2. Nhận thức rủi ro: Khách hàng tại địa bàn còn lo ngại rủi ro mất tài khoản khi điện thoại bị thất lạc, rủi ro lộ mật khẩu hoặc lỗi trừ tiền trong giao dịch trực tuyến.
  3. Sự tin tưởng: Khách hàng có niềm tin nhất định dựa vào thương hiệu viễn thông lâu năm của Tập đoàn VNPT.
  4. Ảnh hưởng xã hội: Tác động từ bạn bè, người thân và xu hướng số hóa tại các cơ quan, đơn vị trên địa bàn.
  5. Nhận thức dễ sử dụng: Yêu cầu về giao diện ứng dụng trực quan, các bước liên kết tài khoản ngân hàng và thao tác thanh toán phải đơn giản.

Đánh giá thực trạng tại đơn vị, tác giả chỉ ra mặt đạt được là đã xây dựng được mạng lưới phân phối và đội ngũ nhân sự trẻ, nhiệt tình; từng bước giới thiệu ví điện tử tới người dùng dịch vụ viễn thông cố định và di động. Mặt hạn chế bao gồm: tỷ lệ người dân biết và thường xuyên dùng ví còn thấp; thói quen dùng tiền mặt chiếm ưu thế tuyệt đối; hệ sinh thái các điểm chấp nhận thanh toán ngoài viễn thông tại thị xã Điện Bàn chưa phát triển đồng bộ.

Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát triển sử dụng dịch vụ thanh toán điện tử với VNPT Pay tại Phòng bán hàng Điện Bàn - Trung tâm Kinh doanh VNPT Quảng Nam

Dựa trên định hướng kinh doanh của VNPT Quảng Nam, tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp cụ thể:

  • Giải pháp 1: Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực: Nâng cao kỹ năng chuyên môn và hiểu biết công nghệ cho đội ngũ giao dịch viên và nhân viên địa bàn; xây dựng cơ chế khoán chỉ tiêu và trả thưởng khuyến khích nhân viên hướng dẫn khách hàng cài đặt, kích hoạt ví VNPT Pay.
  • Giải pháp 2: Nâng cao sự hiểu biết của khách hàng về ví điện tử: Tăng cường tiếp thị trực tiếp tại điểm giao dịch, phát tờ rơi hướng dẫn, đẩy mạnh truyền thông trên mạng xã hội và các kênh thông tin địa phương về tính tiện ích của ví điện tử.
  • Giải pháp 3: Tạo niềm tin vào lợi ích dịch vụ của khách hàng: Cam kết đảm bảo an toàn bảo mật, hướng dẫn khách hàng các nguyên tắc tự bảo vệ tài khoản (mã OTP, bảo mật mật khẩu); tiếp nhận và xử lý nhanh chóng các khiếu nại phát sinh khi thực hiện giao dịch lỗi.
  • Giải pháp 4: Hoàn thiện về hạ tầng công nghệ thông tin: Đảm bảo hạ tầng mạng viễn thông ổn định, giảm thiểu lỗi kết nối giữa ví VNPT Pay với cổng thanh toán 34 ngân hàng; tối ưu hóa tốc độ xử lý giao dịch trên ứng dụng.
  • Giải pháp 5: Tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thanh toán điện tử phát triển: Mở rộng mạng lưới đối tác chấp nhận thanh toán tại địa phương (điện thoại, điện nước, cửa hàng bán lẻ, trường học, bệnh viện); triển khai các chương trình chiết khấu nạp tiền, giảm giá cước khi thanh toán qua ví.

Kết quả và đóng góp

Về kết quả nghiên cứu, khóa luận đã tổng hợp được các dữ liệu định lượng cụ thể:

  • Làm rõ cơ cấu nhân lực tại Phòng bán hàng Điện Bàn năm 2019 với quy mô 14 nhân viên (nữ chiếm 71,4%, đại học và trên đại học chiếm 57,1%, Đảng viên chiếm 71,4%).
  • Phản ánh thực trạng kinh tế vĩ mô về thanh toán số: Việt Nam có tốc độ tăng trưởng thanh toán di động nhanh năm 2018 (từ 37% lên 61% theo PwC), nhưng tiền mặt vẫn chi phối với gần 90% chi tiêu (theo CIEM) và 80% đơn hàng TMĐT vẫn dùng hình thức COD.
  • Ghi nhận năng lực liên kết kỹ thuật của VNPT Pay với 34 ngân hàng, tích hợp thanh toán cước viễn thông cho hàng chục triệu người dùng VNPT, phục vụ chiến lược chính quyền điện tử tại 61/63 tỉnh thành.

Về mặt giải pháp, nghiên cứu xây dựng được 5 nhóm giải pháp mang tính ứng dụng cụ thể cho Phòng bán hàng Điện Bàn, từ khâu nhân lực, truyền thông, tạo dựng niềm tin bảo mật đến hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật và chính sách mở rộng liên kết.

Đóng góp của đề tài thể hiện ở việc hệ thống hóa các văn bản quản lý mới nhất về dịch vụ trung gian thanh toán (đặc biệt là Thông tư 23/2019/TT-NHNN với các hạn mức giao dịch 20 triệu/ngày cho cá nhân) gắn liền với bối cảnh vận hành dịch vụ thực tế. Đề tài cung cấp bức tranh khảo sát cụ thể về việc triển khai một sản phẩm công nghệ tài chính (Fintech) tại cấp cơ sở (huyện/thị xã), làm sáng tỏ các rào cản thực tiễn của người dân ngoại thành đối với dịch vụ ngân hàng và thanh toán trực tuyến.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số hạn chế gắn liền với phạm vi nghiên cứu:

  • Thời gian nghiên cứu giới hạn trong thời gian thực tập ngắn (từ 16/09/2019 đến 21/12/2019).
  • Không gian khảo sát chỉ tập trung tại phạm vi một chi nhánh cơ sở là Phòng bán hàng VNPT Điện Bàn, chưa so sánh đối chiếu với các phòng bán hàng khác trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
  • Nguồn dữ liệu chủ yếu dựa trên các báo cáo thứ cấp và số liệu kinh doanh nội bộ ban đầu, chưa thực hiện được điều tra khảo sát xã hội học diện rộng bằng bảng hỏi định lượng với mẫu khách hàng lớn để xử lý qua các mô hình hồi quy.

Hướng nghiên cứu tiếp có thể mở rộng khảo sát định lượng với cỡ mẫu người tiêu dùng lớn hơn trên toàn tỉnh Quảng Nam, áp dụng mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) hoặc mô hình thống nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) để kiểm định các giả thuyết về các yếu tố tác động đến hành vi sử dụng và gắn kết lâu dài với dịch vụ VNPT Pay.

Giá trị tham khảo

Tài liệu này là nguồn tư liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên các ngành Quản trị kinh doanh, Thương mại điện tử, Hệ thống thông tin quản lý và Tài chính - Ngân hàng đang thực hiện khóa luận hoặc chuyên đề tốt nghiệp về phát triển dịch vụ tài chính số, trung gian thanh toán hoặc ví điện tử.
  • Cán bộ quản lý, nhân viên kinh doanh tại các trung tâm kinh doanh viễn thông cấp huyện, thị xã đang tìm kiếm tài liệu tham khảo về cơ cấu tổ chức bộ máy, bản mô tả nhiệm vụ công việc của từng chức danh tại một phòng bán hàng viễn thông.

Các nội dung đáng tham khảo nhất trong khóa luận bao gồm:

  1. Bảng mô tả chi tiết chức năng, nhiệm vụ của 5 vị trí công tác tại phòng bán hàng cấp cơ sở (Giám đốc, Kế toán, Quản lý khách hàng, Giao dịch viên, Nhân viên địa bàn).
  2. Hệ thống hóa quy định pháp lý tại Thông tư 23/2019/TT-NHNN về quy chế mở tài khoản, hạn mức giao dịch và trách nhiệm pháp lý của người dùng ví điện tử.
  3. Khung phân tích 5 nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ thanh toán điện tử tại khu vực nông thôn và bán đô thị.

Câu hỏi thường gặp

1. Dịch vụ VNPT Pay được Ngân hàng Nhà nước cấp phép vào thời điểm nào và do đơn vị nào thuộc VNPT trực tiếp vận hành?

Theo văn bản khóa luận, dịch vụ VNPT Pay được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép hoạt động trong lĩnh vực trung gian thanh toán vào ngày 06/07/2017. Sản phẩm này do Tổng công ty Truyền thông (VNPT-Media) – đơn vị thành viên do Tập đoàn VNPT sở hữu 100% vốn điều lệ – trực tiếp quản lý và vận hành.

2. Thông tư 23/2019/TT-NHNN sửa đổi quy định những hạn mức giao dịch nào đối với ví điện tử cá nhân và tổ chức?

Văn bản trích dẫn quy định của Thông tư số 23/2019/TT-NHNN: tổng hạn mức giao dịch của một ví điện tử cá nhân (bao gồm chuyển tiền giữa các ví và thanh toán hàng hóa, dịch vụ hợp pháp) tối đa là 20 triệu đồng trong một ngày và 100 triệu đồng trong một tháng. Đối với tổ chức, tổng hạn mức giao dịch tối đa là 100 triệu đồng trong một ngày và 500 triệu đồng trong một tháng.

3. Cơ cấu nguồn nhân lực tại Phòng bán hàng VNPT Điện Bàn năm 2019 có đặc điểm gì về giới tính và trình độ chuyên môn?

Theo số liệu tại Bảng 1 của khóa luận, đơn vị có tổng cộng 14 nhân viên. Về giới tính, lao động nữ chiếm ưu thế với 10 người (tỷ lệ 71,4%), lao động nam có 4 người (tỷ lệ 28,6%). Về trình độ học vấn, nhân sự có trình độ Đại học và trên đại học gồm 8 người (chiếm 57,1%), trình độ Cao đẳng có 3 người (chiếm 21,4%), và Sơ cấp có 3 người (chiếm 21,4%).

4. VNPT Pay hỗ trợ thanh toán trực tuyến cho những dịch vụ viễn thông - công nghệ thông tin nội bộ nào của Tập đoàn VNPT?

Ứng dụng VNPT Pay hỗ trợ thanh toán cước cho toàn bộ hệ sinh thái dịch vụ của VNPT, bao gồm: dịch vụ truyền hình MyTV, Internet/ADSL/FiberVNN, điện thoại cố định, nạp tiền điện thoại (Top-up), mua mã thẻ cào di động, và cước các dịch vụ giá trị gia tăng VAS (như MyEnglish, MyHomework, LBA, Shopbrand).

5. Những rào cản lớn nhất đối với việc phát triển ví điện tử tại thị trường Việt Nam được văn bản chỉ ra là gì?

Văn bản nêu rõ ba khó khăn cốt lõi: thói quen thanh toán bằng tiền mặt còn rất lớn (gần 90% chi tiêu hàng ngày và 80% giao dịch TMĐT sử dụng tiền mặt/COD); tâm lý e ngại rủi ro về tính an toàn và bảo mật tài khoản ngân hàng; hệ sinh thái điểm chấp nhận thanh toán bằng ví chưa đủ lớn, cùng sự cạnh tranh khốc liệt dẫn đến biên lợi nhuận của các doanh nghiệp ví điện tử chỉ đạt 0,2% - 0,5%.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Dương Thị Kim Hoa đã phản ánh bức tranh tổng quan về quá trình phát triển dịch vụ thanh toán điện tử VNPT Pay tại Phòng bán hàng VNPT Điện Bàn trong giai đoạn 2016–2019. Bằng việc kết hợp giữa lý luận trung gian thanh toán, khung pháp lý mới của Ngân hàng Nhà nước và phân tích cơ cấu hoạt động của một chi nhánh viễn thông cấp cơ sở, nghiên cứu đã làm rõ những thuận lợi từ hạ tầng mạng lưới cũng như thách thức từ tâm lý chuộng tiền mặt của người dân địa phương. Hệ thống 5 nhóm giải pháp được đề xuất cung cấp các định hướng thiết thực nhằm giúp đơn vị hoàn thiện công tác tiếp thị, nâng cao năng lực nhân sự và gia tăng thị phần thanh toán số tại thị xã Điện Bàn.