CHƯƠNG 1 MỘT SỐ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ LOGISTICS 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm chiến lược Thuật ngữ chiến lược xuất hiện cách đây khá lâu nó có nguồn gốc từ trong lĩnh vực quân sự và bắt nguồn từ nước Hy lạp cổ đại. Chiến lược ra đời và phát triển gắn liền với các cuộc chinh phạt của các đế quốc và nó được coi như là một nghệ thuật để dành phần thắng trong cuộc chiến.
Nguồn gốc quân sự của khái niệm được thể hiện ngay trong định nghĩa cổ điển nhất của thuật ngữ này. Theo quan điểm truyền thống khái niệm chiến lược được hiểu như sau: “Chiến lược là việc nghiên cứu tìm ra một vị thế cạnh tranh phù hợp trong một ngành công nghiệp, một phạm vi hoạt động chính mà ở đó diễn ra các hoạt động cạnh tranh.”- Theo Micheal Porter. Chiến lược theo quan điểm của ông nhấn mạnh tới góc độ cạnh tranh. Theo Alfred Chandler (2006): “Chiến lược là việc xác định những mục tiêu cơ bản dài hạn của doanh nghiệp, những chương trình hành động cùng với việc phân bổ các nguồn lực cần thiết để thực hiện được các mục tiêu đó”.
Theo Quinn (1980) cho rằng: “Chiến lược là mô thức hay kế hoạch tích hợp các mục tiêu chính yếu, các chính sách và chuỗi hành động vào một tổng thể được cố kết một cách chặt chẽ” (Quinn, J. Strategy for Change). Tựu chung lại, theo tác giả thì: Chiến lược là hệ thống các quan điểm, các mục đích và các mục tiêu cơ bản cùng các giải pháp, các chính sách nhằm sử dụng một cách tốt nhất các nguồn lực, lợi thế và cơ hội của doanh nghiệp để đạt được các mục tiêu đề ra trong mội thời gian nhất định. Khái niệm chiến lược phát triển sản phẩm Chiến lược phát triển sản phẩm trong tiếng Anh là Product Development Strategy.
Chiến lược phát triển sản phẩm là chiến lược nhằm gia tăng lượng hàng hóa tiêu thụ bằng cách thay đổi hoặc cải tiến sản phẩm, dịch vụ hiện tại. 9 Thuật ngữ chiến lược phát triển sản phẩm thường được dùng theo 3 nghĩa phổ biến. Thứ nhất, là các chương trình hoạt động tổng quát và triển khai các nguồn lực chủ yếu để đạt được mục tiêu phát triển sản phẩm của doanh nghiệp. Thứ hai, là các chương trình mục tiêu của tổ chức, các nguồn lực cần sử dụng để đạt được mục tiêu phát triển sản phẩm của doanh nghiệp, các chính sách điều hành việc thu nhập, sử dụng và bố trí các nguồn lực này.
Thứ ba, xác định các mục tiêu dài hạn và lựa chọn các đường lối hoạt động và phân bổ các nguồn lực cần thiết để đạt được các mục tiêu phát triển sản phẩm của doanh nghiệp. Như vậy, Chiến lược phát triển sản phẩm là các phương pháp và hành động được sử dụng để đưa sản phẩm mới ra thị trường hoặc sửa đổi các sản phẩm hiện có để tạo ra hoạt động kinh doanh mới. Phát triển một sản phẩm có một số bước, từ việc sản xuất ý tưởng phân phối sản phẩm cho khách hàng. Mỗi giai đoạn đòi hỏi một chiến lược để thành công và tạo ra doanh thu cho một doanh nghiệp.
Khái niệm dịch vụ Theo từ điển Bách khoa tiếng Việt (2020): “Dịch vụ là các hoạt động nhất định nhằm phục vụ những nhu cầu nhất định của một cá nhân, một nhóm, một tập thể hay toàn thể xã hội, trong đó có tính vô hình nhưng không hề có sự chuyển giao về quyền sở hữu.” Theo An Thị Thanh Nhàn (2010) đưa ra quan điểm về dịch vụ: “Dịch vụ là sản phẩm kinh tế gồm những công việc dưới dạng lao động thể lực, khả năng tổ chức, quản tí, kiến thức và kĩ năng chuyên môn nhằm phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh hay sinh hoạt tiêu dùng của tổ chức, cá nhân.” Như vậy, có thể thấy thấy dịch vụ bao gồm các yếu tố vô hình cấu thành nên và thể hiện thông qua một số đặc điểm sau: Tính vô hình: Người tiêu dùng không thể nhìn thấy, nghe thấy, sờ thấy được trước khi quyết định sử dụng dịch vụ. Tính chất không thể dự trữ được: Tính chất dự trữ của dịch vụ là rất khó so 10 với hàng hoá thậm chí không thể dự trữ được vì có nhiều dịch vụ quá trình sản xuất gắn liền với sử dụng vì vậy mà lượng dịch vụ cung cấp phụ thuộc hoàn toàn vào nhu cầu của khách hàng chứ không phải do ý chí của nhà cung cấp. Khái niệm dịch vụ logistics Theo Hội đồng Quản lý dịch vụ logistics thì logistics là một phần của quá trình cung cấp dây chuyền bao gồm lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm soát hiệu quả, lưu thông hiệu quả và lưu giữ các loại hàng hóa, dịch vụ và có liên quan đến thông tin từ điểm cung cấp cơ bản đến các điểm tiêu thụ để đáp ứng các nhu cầu của khách hàng. Theo điều 233 Luật Thương mại (2005): “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao.
Theo Tổng Công ty Doanh nghiệp Việt Nam (2020): “Dịch vụ logistics là loại dịch vụ nhận gửi, vận chuyển và phát các loại thư, tài liệu, vật phẩm hàng hoá theo chỉ tiêu thời gian được công bố trước.” Từ các quan điểm về dịch vụ và dịch vụ Logistics đã phân tích ở trên, tác giả luận văn rút ra khái niệm dịch vụ Logistics như sau: “Dịch vụ Logistics là một loại hình dịch vụ nhận gửi, vận chuyển vật phẩm hàng hoá…, được xây dựng và phát triển dựa trên yêu cầu, quyền lợi của người tiêu dùng về sự nhanh chóng và tiện lợi theo chỉ tiêu thời gian được công bố trước. Khái niệm chiến lược phát triển dịch vụ logistics Từ khái niệm chiến lược, chiến lược phát triển sản phẩm và khái niệm dịch vụ logistics. Tác giả luận văn rút ra khái niệm chiến lược phát triển dịch vụ logistics như sau: Chiến lược phát triển dịch vụ logistics các phương pháp và hành động được doanh nghiệp sử dụng để xây dựng và triển khai các hoạt động dịch vụ dịch vụ logistics có chủ định và định hướng phát khởi trong quá trình kinh doanh, giữa mục tiêu chiến lược và mục tiêu tình thế giúp mở rộng và nâng cao chất lượng dịch 11 vụ logistics cũng như doanh thu và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong thị trường dịch vụ logistics.2 Đặc điểm, phân loại và vai trò của dịch vụ logistics 1. Đặc điểm và phân loại dịch vụ logistics 1.
Đặc điểm dịch vụ logistics Thứ nhất, chủ thể của quan hệ dịch vụ logistics gồm hai bên: người làm dịch vụ logistics và khách hàng. Đối với người làm dịch vụ phải là thương nhân, có đăng ký kinh doanh để thực hiện dịch vụ logistics. Thủ tục đăng ký kinh doanh được thực hiện theo các đạo luật đơn hành, phụ thuộc vào hình thức pháp lý của thương nhân. Bằng chứng của việc đăng ký kinh doanh là thương nhân này được cơ quan đăng ký kinh doanh cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, trong đó ghi rõ ngành nghề kinh doanh là dịch vụ logistics.
Đối với khách hàng là những người có hàng hóa cần gửi hoặc cần nhận và có nhu cầu sử dụng dịch vụ giao nhận. Khách hàng có thể là người vận chuyển hoặc thậm chí có thể là người làm dịch vụ logistics khác. Như vậy, khách hàng có thể là thương nhân hoặc không phải là thương nhân; có thể là chủ sở hữu hàng hóa hoặc không phải là chủ sở hữu hàng hóa. Thứ hai, về nội dung của dịch vụ logistics.
Nội dung công việc của dịch vụ logistics rất đa dạng và phong phú bao gồm một chuỗi các dịch vụ từ khâu cung ứng, sản xuất, phân phối và tiêu dùng. Dịch vụ logistics bao gồm các công việc sau: Nhận hàng từ người gửi để tổ chức việc vận chuyển: đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, chuyển hàng từ kho của người gửi tới cảng, bến tàu, bến xe và địa điểm giao hàng khác theo thỏa thuận giữa người vận chuyển với người thuê vận chuyển. Làm các thủ tục, giấy tờ cần thiết (thủ tục hải quan, vận đơn vận chuyển, làm thủ tục gửi giữ hàng hóa, làm các thủ tục nhận hàng hóa,…) để gửi hàng hóa hoặc nhận hàng hóa được vận chuyển đến. Giao hàng hóa cho người vận chuyển, xếp hàng hóa lên phương tiện vận chuyển theo quy định, nhận hàng hóa được vận chuyển đến.
Tổ chức nhận hàng, lưu kho, lưu bãi, bảo quản hàng hóa hoặc thực hiện việc giao hàng hóa được vận chuyển đến cho người có quyền nhận hàng. 12 Thứ ba, dịch vụ logistics là một loại hoạt động dịch vụ. Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics được khách hàng trả tiền công và các khoản chi phí khác từ việc cung ứng dịch vụ. Thứ tư, dịch vụ logistics được thực hiện tên cơ sở hợp đồng.
Hợp đồng dịch vụ logistics là sự thỏa thuận, theo đó một bên (bên làm dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện hoặc tổ chức thực hiện một hoặc một số dịch vụ liên quan đến quá trình lưu thông hàng hóa, còn bên kia (khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán thù lao dịch vụ. Hợp đồng dịch vụ logistics là một hợp đồng song vụ, hợp đồng ưng thuận, mang tính chất đền bù. Phân loại dịch vụ logistics Hiên nay, dịch vụ logistics được phân làm 4 nhóm dịch vụ như sau: Thứ nhất, nhóm dịch vụ logistics chủ yếu, bao gồm: Bốc xếp hàng hóa: Đóng hàng lên container, dỡ hàng từ container; Dịch vụ kho bãi mục đích lưu giữ hàng hóa (tính cả kinh doanh cho thuê kho bãi); Dịch vụ đại lý vận tải: Thực hiện thủ tục hải quan, bốc dỡ hàng, đóng gói hàng, đóng thùng gỗ chèn lót cho hàng hóa… Thứ hai, nhóm dịch vụ bổ trợ, bao gồm: Bảo quản hàng hóa lưu kho; Xử lý đơn hàng bị khách hoàn trả; Kiểm tra hàng tồn kho; Kiểm tra và xử lý hàng hóa quá hạn, lỗi mốt; Tái phân phối hàng hóa; Cho thuê, mua bán container. Thứ ba, nhóm dịch vụ logistics vận tải, bao gồm: Vận chuyển hàng hóa theo đường bộ (xe tải, container); Vận tải hàng hóa bằng đường sắt; Vận chuyển hàng hóa đường biển nội địa; Vận chuyển hàng hóa đường biển quốc tế; Vận chuyển hàng hóa đường hàng không; Chuyển phát nhanh nội địa; Chuyển phát nhanh quốc tế.